A-đam
אָדָם (Adam)
Con người đầu tiên được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Người, được giao quyền quản lý thụ tạo nhưng đã đánh mất ân sủng nguyên thủy vì bất tuân.
“Thiên Chúa phán: 'Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta...'”
E-và
חַוָּה (Chawwah) / Εὕα
Người nữ đầu tiên được dựng nên từ cạnh sườn A-đam, mẹ của muôn sinh linh, khởi nguồn của biến cố sa ngã và đón nhận Lời Tiền Tin Mừng cứu độ.
“ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa rút một xương sườn của con người... làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người.”
Ca-in
קַיִן (Qayin)
Con trai trưởng của A-đam và E-và, người làm ruộng đã để lòng ghen tuông che mờ lương tri và gây ra vụ sát nhân đầu tiên trong lịch sử nhân loại.
“Ca-in lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật tiến dâng ĐỨC CHÚA... nhưng Người không đoái nhìn đến Ca-in và lễ vật của ông.”
A-ben
הֶבֶל (Hevel) / Ἄβελ
Người chăn chiên hiền lành, người đầu tiên dâng của lễ đẹp lòng Thiên Chúa bằng đức tin chân thành và là vị tử đạo công chính tiên khởi.
“A-ben dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. ĐỨC CHÚA đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông.”
Sết
שֵׁת (Sheth)
Con trai thứ ba của A-đam và E-và, được ban cho để thay thế A-ben, khởi đầu cho dòng dõi đạo đức biết kêu cầu Danh Thánh Chúa.
“Bà nói: 'Thiên Chúa đã cho tôi một dòng dõi khác thay cho A-ben vì Ca-in đã giết nó.'... Thời đó, người ta bắt đầu kêu cầu danh ĐỨC CHÚA.”
Mơ-thu-se-la
מְתוּשֶׁלַח (Metushelach)
Vị thượng phụ thọ nhất trong toàn bộ Kinh Thánh (969 tuổi), ông nội của Nô-ê, biểu tượng cho lòng kiên nhẫn vô biên của Thiên Chúa.
“Mơ-thu-se-la được một trăm tám mươi bảy tuổi thì sinh La-méc... Tất cả chuỗi ngày của Mơ-thu-se-la là chín trăm sáu mươi chín năm, rồi ông qua đời.”
Nô-ê
נֹחַ (Noach)
Người công chính duy nhất giữa thế hệ băng hoại, đã vâng phục đóng Tàu theo lệnh Chúa để cứu sống gia đình và muôn loài qua biến cố Đại Hồng Thủy.
“Ông Nô-ê được đẹp lòng ĐỨC CHÚA. Ông Nô-ê là người công chính, hoàn hảo giữa những người đồng thời...”
Men-ki-xê-đê
מַלְכִּי־צֶדֶק (Malki-Tzedeq)
Vua thành Sa-lem và là Tư tế của Thiên Chúa Tối Cao, người dâng bánh và rượu chúc phúc cho Áp-ra-ham, hình bóng tiên trưng cho Chức Tư Tế Đời Đời của Đức Kitô.
“Ông Men-ki-xê-đê là vua thành Sa-lem đem bánh và rượu ra; ông là tư tế của Thiên Chúa Tối Cao. Ông chúc phúc cho ông Áp-ram...”
Áp-ra-ham
אַבְרָהָם (Avraham)
Người cha của mọi kẻ tin, được Thiên Chúa tuyển chọn để lập Giao Ước Đất Hứa và là tổ phụ khai sinh Dân Riêng của Thiên Chúa.
“ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram: 'Hãy rời bỏ xứ sở... Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi...'”
I-xa-ác
יִצְחָק (Yitzchaq)
Người con Lời Hứa sinh ra trong tuổi già của Áp-ra-ham và Xa-ra, người con hiếu thảo vâng phục chấp nhận hiến tế trên núi Mô-ri-gia.
“Bà Xa-ra thụ thai và sinh cho ông Áp-ra-ham một con trai lúc ông đã già... và ông đặt tên là I-xa-ác.”
Gia-cóp
יַעֲקֹב (Ya'aqov) / יִשְׂרָאֵל (Yisra'el)
Người được Thiên Chúa đổi tên thành Ít-ra-en sau cuộc giao đấu huyền nhiệm, người cha sinh thành ra 12 người con lập nên 12 Chi tộc Dân Chúa.
“Ông chiêm bao thấy một chiếc thang dựng dưới đất, đầu thang chạm tới trời, và các thiên thần của Thiên Chúa lên xuống trên thang...”
Giu-đa
יְהוּדָה (Yehudah)
Con trai thứ tư của Gia-cóp, người đã tự nguyện thế thân cứu em út Bê-nha-min và được chọn làm khởi nguồn cho dòng dõi Vua Đa-vít và Đấng Cứu Thế.
“Giờ đây xin cho tôi tớ ngài ở lại làm nô lệ cho ngài thay cho đứa bé, còn đứa bé xin cho nó trở về với các anh...”
Giu-se
יוֹסֵף (Yosef)
Con yêu dấu của Gia-cóp, bị các anh ghen ghét bán sang Ai Cập nhưng nhờ ơn Chúa đã trở thành Thừa tướng cứu sống muôn dân và mở lòng tha thứ cho các anh.
“Ông Ít-ra-en yêu Giu-se hơn tất cả các con... và may cho chàng một chiếc áo dài nhiều màu sắc...”
Mô-sê
מֹשֶׁה (Mosheh) / Μωϋσῆς
Vị ngôn sứ vĩ đại nhất của Cựu Ước, người diện đối diện với Thiên Chúa, dẫn dắt dân Ít-ra-en thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập và đón nhận Thập Điều tại núi Sinai.
“Sứ thần ĐỨC CHÚA hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi gai... Thiên Chúa từ giữa bụi gai gọi ông: 'Mô-sê! Mô-sê!' Ông thưa: 'Dạ, con đây!'”
A-rôn
אַהֲרֹן (Aharon)
Anh trai của Mô-sê, được Thiên Chúa xức dầu tấn phong làm Thượng tế tiên khởi của Dân Chúa, thiết lập dòng tư tế Lê-vi phụng sự Đền Tạm.
“ĐỨC CHÚA phán: 'Há chẳng có A-rôn, người anh em Lê-vi của ngươi đó sao? Ta biết nó có tài ăn nói... Nó sẽ thay ngươi nói với dân.'”
Mi-ri-am
מִרְיָם (Miryam)
Chị gái của Mô-sê và A-rôn, nữ ngôn sứ can trường đã cứu Mô-sê thuở ấu thơ và lĩnh xướng Bài ca Khải hoàn bên bờ Biển Đỏ.
“Chị đứa trẻ đứng đằng xa để xem chuyện gì sẽ xảy ra cho nó... Chị nói với con gái Pha-ra-ô: 'Bà có muốn tôi đi tìm một vú nuôi người Híp-ri để nuôi đứa bé cho bà không?'”
Pha-ra-ô
פַּרְעֹה (Par'oh) / Pharao
Vua Ai Cập thống trị hà khắc, kẻ đã nhiều lần chai đá chối từ thánh ý Thiên Chúa và phải chứng kiến sự sụp đổ của quân đội trong lòng Biển Đỏ.
“Pha-ra-ô đáp: 'ĐỨC CHÚA là ai mà ta phải nghe lời Người để thả Ít-ra-en đi? Ta không biết ĐỨC CHÚA, và ta cũng chẳng thả Ít-ra-en đâu!'”
Ca-lép
כָּלֵב (Kalev)
Thủ lĩnh chi tộc Giu-đa can trường, một trong hai trinh sát duy nhất giữ trọn đức tin tuyệt đối vào Thiên Chúa để được dẫn con cháu tiến vào chiếm lĩnh Đất Hứa.
“Ông Ca-lép làm cho dân im lặng trước mặt ông Mô-sê và nói: 'Chúng ta hãy cứ tiến lên và chiếm xứ ấy, vì chắc chắn chúng ta sẽ thắng được!'”
Giô-suê
יְהוֹשֻׁעַ (Yehoshua) / Ἰησοῦς
Môn đệ thân cận và người kế vị Mô-sê, vị tướng lĩnh đã dẫn Dân Chúa vượt sông Gio-đan, hạ thành Giê-ri-khô và phân chia Đất Hứa cho 12 chi tộc.
“Như Ta đã ở với Mô-sê, Ta cũng sẽ ở với ngươi... Hãy can đảm và mạnh mẽ lên, vì chính ngươi sẽ cho dân này chiếm lấy xứ...”
Đê-bô-ra
דְּבוֹרָה (Devorah)
Nữ thủ lãnh và nữ ngôn sứ duy nhất của thời các Thủ Lãnh, người ngồi phân xử dưới cây chà là và truyền cảm hứng giải phóng Ít-ra-en khỏi ách ngoại bang.
“Thời đó, bà Đê-bô-ra, một nữ ngôn sứ... làm thủ lãnh Ít-ra-en. Bà thường ngồi dưới cây chà là... và con cái Ít-ra-en lên đó để bà phân xử.”
Ghi-đê-ôn
גִּדְעוֹן (Gid'on)
Thủ lãnh khiêm hạ được Sứ thần Chúa gọi là 'Tráng sĩ dũng mãnh', người đã đập tan bàn thờ Ba-an và chỉ dùng 300 chiến binh cầm đuốc và tù và để đánh tan đại quân Ma-đi-an.
“Sứ thần ĐỨC CHÚA hiện ra với ông và nói: 'Hỡi tráng sĩ dũng mãnh, ĐỨC CHÚA ở cùng ông!... Hãy dùng sức mạnh của ngươi mà giải cứu Ít-ra-en.'”
Sam-son
שִׁמְשׁוֹן (Shimshon)
Vị thủ lãnh dũng sĩ được thánh hiến làm người Na-dia từ lòng mẹ, sở hữu sức mạnh vô song nhờ Thần Khí Chúa, người đã dùng chính cái chết của mình để giải thoát Ít-ra-en khỏi người Phi-li-tinh.
“Này bà sẽ thụ thai và sinh một con trai. Dao cạo sẽ không được đụng đến đầu nó, vì con trẻ sẽ là người Na-dia của Thiên Chúa từ trong lòng mẹ...”
Rút
רוּת (Rut)
Người phụ nữ ngoại giáo xứ Mô-áp trọn đạo hiếu nghĩa với mẹ chồng Na-o-mi, đã chọn ĐỨC CHÚA làm Thiên Chúa của mình và trở thành cụ cố của Vua Đa-vít.
“Bà Rút đáp: 'Xin mẹ đừng ép con bỏ mẹ... vì mẹ đi đâu con đi đó, mẹ ở đâu con ở đó. Dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con.'”
Sa-mu-en
שְׁמוּאֵל (Shemu'el) / Σαμουήλ
Vị thủ lãnh cuối cùng và ngôn sứ vĩ đại được mẹ là bà An-na dâng hiến cho Đền Tạm từ nhỏ, người được Chúa sai đi xức dầu tấn phong hai vị vua tiên khởi Sau-lơ và Đa-vít.
“ĐỨC CHÚA đến, đứng đó và gọi như những lần trước: 'Sa-mu-en! Sa-mu-en!' Sa-mu-en thưa: 'Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.'”
Sau-lơ
שָׁאוּל (Sha'ul) / Σαούλ
Vị vua tiên khởi cao lớn dũng mãnh của Ít-ra-en, người đã đánh thắng nhiều kẻ thù nhưng bị phế truất vì không vâng phục Lời Chúa và để lòng ghen ghét Đa-vít hủy hoại.
“Ông có một người con trai tên là Sau-lơ, một thanh niên đẹp trai... từ vai trở lên, chàng cao hơn toàn dân.”
Gia-na-than
יְהוֹנָתָן (Yehonatan)
Hoàng tử trưởng của vua Sau-lơ, dũng tướng thiện xạ và là người bạn tri kỷ son sắt của Đa-vít, sẵn sàng từ bỏ quyền kế vị ngai vàng vì nhận biết thánh ý Chúa.
“Tâm hồn ông Gia-na-than gắn bó với tâm hồn ông Đa-vít, và Gia-na-than yêu quý ông như chính mạng sống mình... Gia-na-than cởi áo choàng đang mặc trao cho Đa-vít...”
Đa-vít
דָּוִד (David) / Δαυίδ
Vị vua vĩ đại theo thánh ý Chúa, người hạ gục khổng lồ Gô-li-át bằng dây phóng đá, thống nhất 12 chi tộc, lập đô tại Giêrusalem và nhận Lời Hứa Giao Ước Vương Quyền Vĩnh Cửu.
“Đa-vít nói với người Phi-li-tinh: 'Mày đến với tao bằng gươm, giáo, phóng lao; còn tao đến với mày nhân danh ĐỨC CHÚA các đạo binh...'”
Bát-se-ba
בַּת־שֶׁבַע (Bat-Sheva)
Vợ của U-ri-gia rồi trở thành Hoàng hậu của Đa-vít, mẹ của Vua Sa-lô-môn, người giữ vai trò Hoàng Thái Hậu (Gebirah) chuyển cầu quyền uy trước ngai vàng.
“Vua Đa-vít an ủi bà Bát-se-ba vợ mình... Bà sinh một con trai và vua đặt tên là Sa-lô-môn. ĐỨC CHÚA yêu thương nó.”
Sa-lô-môn
שְׁלֹמֹה (Shelomoh) / Σολομών
Vị vua nổi tiếng với ơn khôn ngoan siêu phàm được Chúa ban tặng, tác giả các sách Khôn Ngoan, người đã hoàn thành công trình vĩ đại xây dựng Đền Thờ Giêrusalem đầu tiên.
“Xin ban cho tôi tớ Ngài một tâm hồn biết lắng nghe... Chúa phán: 'Vì ngươi đã xin điều đó... Ta ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan và thông hiểu, đến nỗi trước ngươi không có ai như ngươi và sau ngươi cũng chẳng có ai sánh bằng.'”
Na-than
נָתָן (Natan)
Vị ngôn sứ can trường của hoàng gia, người công bố Lời Hứa Giao ước Đa-vít và dũng cảm dùng dụ ngôn con chiên nhỏ để quở trách tội lỗi của vua Đa-vít.
“Lời ĐỨC CHÚA phán với ông Na-than: 'Hãy đi nói với Đa-vít tôi tớ Ta... Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ bền vững mãi mãi...'”
Ê-li-a
אֵלִיָּהוּ (Eliyahu) / Ἠλίας
Vị ngôn sứ bốc lửa vĩ đại nhất của Cựu Ước, người đã thách thức 450 tiên tri Ba-an trên núi Cát-minh, gặp Chúa trong tiếng gió hiu hắt và được cất lên trời trên cỗ xe lửa.
“Bấy giờ lửa của ĐỨC CHÚA rơi xuống thiêu rụi lễ toàn thiêu... Toàn dân thấy vậy liền sấp mặt xuống và nói: 'ĐỨC CHÚA chính là Thiên Chúa!'”
Ê-li-sê
אֱלִישָׁע (Elisha)
Môn đệ kế vị đại ngôn sứ Ê-li-a, người nhận gấp đôi thần khí và thực hiện vô số phép lạ nhân từ cứu giúp người nghèo khổ, làm sống lại kẻ chết và chữa lành tướng Na-a-man.
“Ê-li-sê thưa: 'Xin cho con được thừa hưởng hai phần thần khí của thầy'... Ông nhặt lấy áo choàng của ông Ê-li-a đã rơi xuống...”
Hê-dê-ki-a
חִזְקִיָּהוּ (Chizqiyahu)
Một trong những vị vua công chính nhất của vương quốc Giu-đa, người đã phá hủy ngẫu tượng, canh tân phụng tự và hết lòng tín thác nơi Chúa để cứu Giêrusalem khỏi quân Át-sơ.
“Vua tin tưởng vào ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en... Vua gắn bó với ĐỨC CHÚA, không hề lìa xa Người, và tuân giữ các mệnh lệnh...”
Giô-si-gia
יֹאשִׁיָּהוּ (Yoshiyahu)
Vị vua trẻ tuổi nhiệt thành đã khởi xướng cuộc cải cách tôn giáo triệt để nhất lịch sử sau khi tìm thấy Cuộn Sách Luật trong Đền Thờ và tái lập Đại Lễ Vượt Qua huy hoàng.
“Vua vừa nghe những lời trong Sách Luật, liền xé áo mình ra...”
I-sai-a
יְשַׁעְיָהוּ (Yeshayahu) / Ἠσαΐας
Đại ngôn sứ vĩ đại được mệnh danh là 'Ngôn sứ Tin Mừng thứ năm', người tiên báo sự sinh hạ mầu nhiệm của Đấng Emmanuel và cuộc thương khó cứu chuộc của 'Người Tôi Trung Đau Khổ'.
“Tôi nghe tiếng Chúa phán: 'Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?' Tôi thưa: 'Dạ, con đây, xin sai con đi!'”
Gie-rê-mi-a
יִרְמְיָהוּ (Yirmeyahu) / Ἱερεμίας
Vị ngôn sứ rơi lệ đã chịu đau khổ bách hại tột cùng vì trung thành rao giảng Lời Chúa trước thảm họa Lưu đày Babylon, người loan báo Giao Ước Mới ghi khắc trong tâm khảm.
“Trước khi cho ngươi thành hình trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi, đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.”
Ê-dê-ki-en
יְחֶזְקֵאל (Yekhezqel) / Ἰεζεκιήλ
Ngôn sứ kiêm tư tế tại đất lưu đày Babylon, người chiêm ngưỡng Thị kiến Cỗ xe Vinh quang Thiên Chúa, loan báo Trái Tim Mới bằng thịt và sự phục sinh của Dân Chúa qua Thị kiến Thung lũng Xương khô.
“Tôi thấy một đám mây lớn, một luồng lửa bốc cháy... Ở giữa có hình bốn sinh vật: mặt người, mặt sư tử, mặt bò mộng, và mặt phượng hoàng...”
Đa-ni-en
דָּנִיֵּאל (Daniyyel) / Δανιήλ
Vị ngôn sứ thanh khiết và uyên bác tại triều đình ngoại bang, người giải mộng cho các vua Babylon, được cứu thoát kỳ diệu khỏi Hang Sư Tử và đón nhận thị kiến khải huyền về Vương Quốc 'Con Người' vĩnh cửu.
“Ông Đa-ni-en quyết tâm không để mình bị ô uế vì các cao lương mỹ vị và rượu của nhà vua...”
Tô-bi-a
טוֹבִי (Tovi) / Τωβίθ & Τωβίας
Người con hiếu thảo của ông già Tô-bít công chính, đã vâng lời cha lên đường hành hương dưới sự dẫn dắt của Tổng Lãnh Thiên Thần Ra-pha-en, giải cứu nàng Sa-ra và chữa lành đôi mắt cho cha mù lòa.
“Hãy dùng tài sản của con mà bố thí... Đừng ngoảnh mặt làm ngơ trước bất cứ người nghèo khó nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ trước con.”
Giu-đi-tha
יְהוּדִית (Yehudit) / Ἰουδίθ
Người góa phụ đoan trang và tràn đầy đức tin tại Bê-thu-li-a, người đã ăn chay cầu nguyện rồi một mình tiến vào doanh trại địch, chém đầu đại tướng Hô-lô-phéc-nê để cứu Dân Chúa khỏi họa diệt vong.
“Đừng thử thách ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng ta... Hãy kiên nhẫn chờ đợi ơn Người cứu độ và kêu cầu Người giúp đỡ...”
Ét-te
אֶסְתֵּר (Ester) / Hadassah (הֲדַסָּה)
Thiếu nữ Do Thái mồ côi trở thành Hoàng hậu đế quốc Ba Tư, người đã liều mạng sống diện kiến nhà vua sau 3 ngày ăn chay cầu nguyện để lật tẩy âm mưu diệt chủng Dân Chúa của quan đại thần Ha-man.
“Biết đâu chính vì một thời điểm như thế này mà em đã được lên ngôi hoàng hậu!... Tôi sẽ vào diện kiến nhà vua, dù trái luật; và nếu tôi phải chết, thì tôi chết!”
Ét-ra
עֶזְרָא (Ezra) / Ἔσδρας
Tư tế và kinh sư uyên thấu Luật Mô-sê, người lãnh đạo đoàn lưu đày thứ hai trở về quê hương, chấn hưng phụng tự và đọc Lời Chúa làm bùng cháy lại ngọn lửa đức tin của Dân Thánh.
“Vì ông Ét-ra đã hết lòng nghiên cứu Luật ĐỨC CHÚA, đem ra thực hành, và dạy dỗ trong Ít-ra-en các quy tắc và luật lệ.”
Nơ-khe-mi-a
נְחֶמְיָה (Nekhemyah)
Quan chước tửu của hoàng đế Ba Tư đã từ bỏ vinh hoa để về quê hương làm Tổng trấn, lãnh đạo dân chúng vừa cầm bay xây thành vừa cầm gươm canh phòng, hoàn thành tường thành Giêrusalem thần tốc trong 52 ngày.
“Khi nghe những lời ấy, tôi ngồi xuống than khóc và chịu tang nhiều ngày; tôi ăn chay và cầu nguyện trước nhan Thiên Chúa các tầng trời...”
Giu-đa Mác-ca-bê
יְהוּדָה הַמַּכַּבִּי (Yehudah HaMakabi) / Ἰούδας Μακκαβαῖος
Vị tướng kiệt xuất của gia tộc Mác-ca-bê, 'Cây Búa của Thiên Chúa', người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống lại bạo chúa An-ti-ô-khô IV, tái chiếm và thanh tẩy Đền Thờ Giêrusalem, lập nên Lễ Cung Hiến (Hanukkah).
“Ông Giu-đa đáp: 'Thắng bại trong chiến tranh không tùy thuộc ở số quân đông đảo, nhưng sức mạnh là do Trời ban...'”
Đức Maria
מִרְיָם (Miryam) / Μαρία
Tuyệt đỉnh thụ tạo của Thiên Chúa, Đấng Đầy Ơn Phúc, Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể và là Mẫu Gương đức tin tuyệt hảo của Hội Thánh.
“Sứ thần nói: 'Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ơn phúc, ĐỨC CHÚA ở cùng bà'... Bấy giờ bà Maria nói: 'Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.'”
Thánh Giuse
יוֹסֵף (Yosef) / Ἰωσήφ
Người công chính thuộc hoàng tộc Đa-vít, bạn trăm năm khiết tịnh của Đức Maria, người cha nuôi gương mẫu và đấng gìn giữ trung tín của Thánh Gia Thất.
“Ông Giuse, chồng bà, là người công chính... Sứ thần Chúa hiện đến báo mộng: 'Này ông Giuse, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về... Khi thức giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa truyền.'”
Thánh Gioan Tẩy Giả
יוֹחָנָן (Yochanan) / Ἰωάννης ὁ Βαπτιστής
Vị ngôn sứ tiền hô vĩ đại nhất sinh ra bởi người phụ nữ, người sống khổ hạnh trong sa mạc dọn đường cho Đấng Cứu Thế, làm phép rửa cho Chúa Giêsu và tử đạo để bảo vệ luân lý.
“Có tiếng người hô trong hoang địa: 'Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.'”
Đức Giêsu Kitô
יֵשׁוּעַ (Yeshua) / Ἰησοῦς Χριστός
Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu Độ trần gian, qua Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh vinh hiển đã giao hòa con người với Thiên Chúa và khai mở Vương Quốc Nước Trời vĩnh cửu.
“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được ngắm nhìn vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.”
Thánh Phê-rô
שִׁמְעוֹן (Shim'on) / Κηφᾶς (Cephas) / Πέτρος
Ngư phủ xứ Galilê được Chúa Giêsu đổi tên thành Kê-pha (Đá) và trao Chìa Khóa Nước Trời, thủ lĩnh Các Tông Đồ và vị Giáo hoàng tiên khởi chịu tử đạo ngược đầu tại Rôma.
“Ông Si-môn Phê-rô thưa: 'Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống'... Đức Giêsu nói: 'Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy... Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời...'”
Thánh Phaolô
שָׁאוּל (Sha'ul) / Παῦλος (Paulos)
Người Pha-ri-sêu nhiệt thành từng bách hại Hội Thánh, được Chúa Kitô Phục Sinh biến đổi trên đường Đa-mát để trở thành Tông Đồ Dân Ngoại vĩ đại, đi khắp đế quốc La Mã truyền giáo và viết nên 14 bức thư tín bất hủ.
“Bỗng nhiên có ánh sáng từ trời chiếu tỏa chung quanh ông... Có tiếng phán bảo ông: 'Sa-un, Sa-un, sao ngươi bắt bớ Ta?' Ông thưa: 'Lạy Ngài, Ngài là ai?' Người đáp: 'Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ.'”
Thánh Gioan Tông đồ
יוֹחָנָן (Yochanan) / Ἰωάννης
Môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến, người tựa đầu vào ngực Chúa trong Bữa Tiệc Ly, đứng dưới chân Thập Giá nhận Đức Mẹ làm Mẹ, và là tác giả của Tin Mừng Tình Yêu cùng Sách Khải Huyền.
“Trong số các môn đệ, có một người được Đức Giêsu thương mến. Cậu đang nghiêng mình vào lòng Đức Giêsu.”
Thánh Giacôbê Tiền
יַעֲקֹב (Ya'aqov) / Ἰάκωβος
Con ông Dê-bê-đê, người được Chúa gọi là 'Con của Thiên Lôi' vì lòng nhiệt thành, vị Tông Đồ đầu tiên trong Nhóm Mười Hai đổ máu tử đạo vì Chúa Kitô, quan thầy nước Tây Ban Nha (Santiago).
“Ông Giacôbê con ông Dê-bê-đê, và ông Gioan em ông Giacôbê, Người đặt tên cho hai ông là Bô-a-nê-ghê, nghĩa là Con của Thiên Lôi.”
Thánh An-rê
אַנְדְּרֵי (Andrei) / Ἀνδρέας (Andreas)
Vị Tông Đồ đầu tiên được Chúa Giêsu kêu gọi (Protokletos), anh ruột của Thánh Phê-rô, người luôn sốt sắng dẫn người khác đến gặp Chúa và chịu tử đạo trên Thập Giá hình chữ X.
“Ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giêsu. Ông gặp anh mình là ông Si-môn trước hết và nói: 'Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a'... Rồi ông dẫn anh mình đến gặp Đức Giêsu.”
Thánh Mát-thêu
מַתִּתְיָהוּ (Mattityahu) / Μαθθαῖος / Lê-vi
Người thu thuế tại Ca-phát-na-um (Lê-vi) đã lập tức bỏ bàn thu thuế khi nghe tiếng gọi của Chúa Giêsu, trở thành Tông Đồ và tác giả cuốn Tin Mừng đầu tiên chứng minh Đức Giêsu là Đấng Mê-si-a ứng nghiệm Cựu Ước.
“Đức Giêsu thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi ở bàn thu thuế, Người bảo ông: 'Hãy theo Thầy!' Ông đứng dậy đi theo Người.”
Thánh Tô-ma
תְּאוֹם (Te'om) / Δίδυμος / Θωμᾶς
Vị Tông Đồ thẳng thắn từng nghi ngờ sự phục sinh nhưng đã đưa tay chạm vào Vết Thương Chúa để thốt lên lời tuyên xưng đức tin cao nhất Tân Ước: 'Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!', người truyền giáo đến tận Ấn Độ.
“Ông Tô-ma nói: 'Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường?' Đức Giêsu đáp: 'Chính Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống...'”
Thánh Nữ Maria Mác-đa-la
מִרְיָם הַמַּגְדָּלִית (Miryam HaMagdalit) / Μαρία ἡ Μαγδαληνή
Người nữ môn đệ được Chúa trừ bảy quỷ, trung thành đứng dưới chân Thập Giá, người đầu tiên diện kiến Chúa Phục Sinh tại khu vườn và được sai đi loan báo Tin Mừng cho các Tông Đồ.
“Bà Maria gọi là Maria Mác-đa-la, người đã được trừ bảy quỷ... cùng nhiều phụ nữ khác đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ.”
Thánh Tê-pha-nô
Στέφανος (Stephanos)
Vị phó tế đầu tiên đầy tràn ân sủng và Thánh Thần, người làm chứng dũng cảm trước Thượng Hội Đồng và chịu ném đá tử đạo tiên khởi trong khi cầu xin Chúa tha thứ cho kẻ giết mình.
“Ông Tê-pha-nô được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng dấu lạ lớn lao trong dân.”
Thánh Lu-ca
Loukas (Λουκᾶς) / Lucas
Vị y sĩ gốc Hy Lạp thân thiết của Thánh Phaolô, người đã tra cứu cẩn thận để viết nên cuốn Tin Mừng về Lòng Thương Xót và Thiếu Nhi Thơ Ấu (Tin Mừng Luca) cùng biên niên sử Hội Thánh sơ khai (Sách Công Vụ Tông Đồ).
“Tôi đã cẩn thận tra cứu mọi sự từ đầu, và quyết định viết lại cho có thứ tự... để bạn nhận biết sự vững chắc của các giáo huấn bạn đã học.”
Thánh Mác-cô
יוֹחָנָן מַרְקוֹס (Yochanan Markos) / Μᾶρκος
Người môn đệ thân cận được Thánh Phê-rô gọi là 'con tôi', người ghi chép lại các bài giảng của Phê-rô để tạo nên cuốn Tin Mừng ngắn nhất và sớm nhất, vị Giám mục tiên khởi của Alexandria.
“Khởi đầu Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.”
Thánh Ba-na-ba
יוֹסֵף (Yosef) / Βαρναβᾶς (Barnabas)
Vị Lê-vi xứ Síp đầy lòng quảng đại và Thánh Thần, người đã bán ruộng dâng tiền cho các Tông Đồ, bảo lãnh Phaolô vào Hội Thánh và cùng Phaolô mở ra công cuộc truyền giáo vĩ đại cho Dân Ngoại.
“Ông Giuse, người được các Tông Đồ đặt tên là Ba-na-ba... có một thửa đất, đã bán đi và đem tiền đặt dưới chân các Tông Đồ.”
