PHẦN THỨ BA: ĐỜI SỐNG TRONG ĐỨC KITÔ Số 1691 “Hỡi Kitô hữu, hãy ý thức phẩm giá của bạn, và đã được thông phần bản tính thần linh, bạn đừng quay trở lại với sự thấp hèn trước kia. Bạn hãy nhớ bạn thuộc về Đầu nào và là chi thể của ai. Bạn hãy nhớ rằng bạn đã được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm và được đưa vào ánh sáng và Nước của Thiên Chúa” 1 .
Số 1692 Tín biểu tuyên xưng sự cao cả của các hồng ân Thiên Chúa đã rộng ban cho loài người trong công trình tạo dựng của Ngài và hơn nữa nhờ ơn cứu chuộc và thánh hoá. Điều đức tin tuyên xưng, được các bí tích truyền thông: nhờ các bí tích tái sinh, các Kitô hữu trở nên “con Thiên Chúa” (1 Ga 3,1) 2 , “được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4). Khi nhận biết phẩm giá mới của mình nhờ đức tin, các Kitô hữu được kêu gọi để từ nay ăn ở cho xứng với Tin Mừng của Đức Kitô 3 . Nhờ các bí tích và kinh nguyện, họ nhận được ân sủng của Đức Kitô và các hồng ân của Thần Khí của Người, làm cho họ có khả năng thực hiện điều đó.
Số 1693 Đức Kitô Giêsu luôn làm điều đẹp lòng Chúa Cha 4 . Người luôn sống trong sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha. Cũng một cách đó, các môn đệ của Người được mời gọi sống trước tôn nhan Chúa Cha, “Đấng thấu suốt những gì kín đáo (Mt 6,6), để trở nên “hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện (Mt 5,48).
Số 1694 Được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ Phép Rửa 5 , các Kitô hữu đã chết cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu 6 , và như vậy họ được tham dự vào sự sống của Đấng Phục Sinh. Khi bước theo Đức Kitô và kết hợp với Người 8 , các Kitô hữu có thể cố gắng bắt chước Thiên Chúa, như những người con rất yêu dấu và bước đi trong tình yêu 9 , bằng việc uốn nắn các ý nghĩ, lời nói và hành động của mình, sao cho họ có nơi mình tâm tư như đã có trong Đức Kitô Giêsu 10 và sống theo gương Người 11 .
Số 1695 Các Kitô hữu, “được nên công chính nhờ danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta (1 Cr 6,11), được thánh hoá và được gọi là thánh 12 , họ trở thành “đền thờ của Chúa Thánh Thần” (1 Cr 6,19). Chính “Thần Khí của Chúa Con” dạy họ cầu nguyện với Chúa Cha 13 , và khi đã trở nên sự sống của họ, Ngài thúc đẩy họ hành động 14 để mang lại hoa trái của Thần Khí 15 nhờ thực hiện đức mến. Khi chữa lành các vết thương của tội lỗi, Chúa Thánh Thần canh tân nội tâm chúng ta bằng sự biến đổi thiêng liêng 16 , Ngài soi sáng chúng ta và củng cố để với tư cách là “con cái ánh sáng (Ep 5,8), chúng ta sống “lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5,9).
Số 1696 Con đường của Đức Kitô “đưa đến sự sống (Mt 7,14), còn con đường đối nghịch “đưa đến diệt vong (Mt 7,13) 17 . Dụ ngôn Tin Mừng về hai con đường luôn hiện diện trong việc dạy giáo lý của Hội Thánh. Nó cho thấy tầm quan trọng của các quyết định luân lý đối với ơn cứu độ của chúng ta. "Có hai con đường, một dẫn đến sự sống, một dẫn đến sự chết: hai bên khác nhau một trời một vực 18 .
Số 1697 Trong việc dạy giáo lý, phải trình bày hết sức rõ ràng niềm vui và những đòi hỏi của con đường của Đức Kitô 19 . Việc dạy giáo lý về “đời sống mới” (Rm 6,4) trong Người sẽ là: Dạy giáo lý về Chúa Thánh Thần, vị Thầy nội tâm của đời sống theo Đức Kitô, người khách trọ dịu hiền và người bạn linh hứng, hướng dẫn, sửa chữa và củng cố đời sống này; Dạy giáo lý về ân sủng, bởi vì nhờ ân sủng mà chúng ta được cứu độ, và cũng nhờ ân sủng mà các công việc của chúng ta có thể mang lại hoa trái cho sự sống muôn đời; Dạy giáo lý về các mối phúc, bởi vì con đường của Đức Kitô được tóm kết trong các mối phúc, là con đường duy nhất dẫn đến vinh phúc muôn đời mà trái tim con người hằng khao khát; Dạy giáo lý về tội lỗi và ơn tha thứ, bởi vì con người, nếu không nhận biết mình là tội nhân, thì không thể nhận ra chân lý về bản thân mình, chân lý này là điều kiện để hành động đúng đắn, và, nếu ơn tha thứ không được ban cho họ, họ không thể chịu đựng nổi chân lý này; Dạy giáo lý về các nhân đức nhân bản, giúp chúng ta nhận ra vẻ đẹp và sự lôi cuốn của những thái độ chân chính hướng về điều thiện; Dạy giáo lý về các nhân đức Kitô giáo: tin, cậy, mến, được gợi hứng rất nhiều từ mẫu gương của các Thánh; Dạy giáo lý về giới răn mến Chúa yêu người được triển khai trong Mười Điều Răn; Dạy giáo lý về Hội Thánh, bởi vì đời sống Kitô hữu chỉ có thể tăng trưởng, được quảng bá và được lưu truyền nhờ sự trao đổi đa dạng “các lợi ích thiêng liêng trong mầu nhiệm “các Thánh thông công”.
Số 1698 Điểm quy chiếu đầu tiên và tối thượng của việc dạy giáo lý như vậy sẽ luôn luôn là chính Chúa Giêsu Kitô, Đấng là “con đường, là sự thật, và là sự sống (Ga 14,6). Khi nhìn ngắm Người bằng đức tin, các Kitô hữu có thể hy vọng chính Người sẽ thực hiện nơi họ những điều Người đã hứa, và khi yêu mến Người bằng tình yêu mà Người đã yêu mến họ, họ có thể thực hiện được những việc phù hợp với phẩm giá của mình: “Tôi xin bạn hãy coi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Đầu thật của bạn và bạn là một trong các chi thể của Người.... Người đối với bạn cũng như đầu đối với các chi thể; mọi sự của Người, là của bạn: tinh thần, trái tim, thân thể, linh hồn và mọi khả năng của Người, ... bạn phải sử dụng tất cả như của riêng bạn để phục vụ, ca ngợi, yêu mến và tôn vinh Thiên Chúa. Nhưng bạn thuộc về Người, như chi thể thuộc về đầu, vì vậy Người hết sức khao khát sử dụng tất cả các tài năng của bạn, như là của Người, để phục vụ và tôn vinh Cha Người 20 . “Đối với tôi, sống là Đức Kitô” (Pl 1,21).
ĐOẠN THỨ NHẤT: ƠN GỌI CỦA CON NGƯỜI: SỐNG TRONG THẦN KHÍ Số 1699 Đời sống trong Thần Khí hoàn thành ơn gọi của con người (Chương Một). Đời sống này cốt tại đức mến thần linh và sự liên đới nhân loại (Chương Hai). Đời sống này được trao ban cách nhưng không như ơn cứu độ (Chương Ba).
CHƯƠNG MỘT: PHẨM GIÁ CỦA NHÂN VỊ Số 1700 Phẩm giá của nhân vị bắt nguồn từ việc con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa (Mục 1); phẩm giá này được hoàn thành trong ơn gọi đến hưởng vinh phúc thần linh (Mục 2). Trách nhiệm của con người là tự nguyện hướng tới sự hoàn thành đó (Mục 3). Bằng những hành vi có ý thức của mình (Mục 4), nhân vị sống phù hợp hay không phù hợp với điều thiện hảo mà Thiên Chúa đã hứa và lương tâm chứng nhận (Mục 5). Người ta tự xây dựng bản thân mình và tăng trưởng nội tâm: họ sử dụng toàn bộ đời sống cảm giác và tinh thần của họ làm chất liệu cho sự tăng trưởng của mình (Mục 6). Nhờ ân sủng trợ giúp, họ tăng trưởng về nhân đức (Mục 7), xa lánh tội lỗi, và nếu đã phạm tội, họ sẽ như đứa con hoang đàng, phó thác cho lòng thương xót của Cha chúng ta trên trời (Mục 8). Như vậy, con người đạt tới sự trọn hảo của đức mến.
Mục 1: Con người là hình ảnh của Thiên Chúa Số 1701 “Đức Kitô, chính khi mạc khải về mầu nhiệm của Chúa Cha và về tình yêu của Ngài, đã biểu lộ cho con người cách rất đầy đủ về chính họ và cho họ thấy ơn gọi rất cao cả của họ” 21 . Trong Đức Kitô, “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình" (Cl 1,15) 22 , con người được tạo dựng “theo hình ảnh và giống như Đấng Tạo Hoá. Trong Đức Kitô, Đấng Cứu chuộc và Cứu độ, hình ảnh thần linh, đã bị biến dạng nơi con người vì nguyên tội, nay được phục hồi trong vẻ đẹp nguyên thuỷ của nó và còn được nên cao trọng nhờ ân sủng của Thiên Chúa 23 .
Số 1702 Hình ảnh thần linh hiện diện trong từng con người. Hình ảnh đó rực sáng trong sự hiệp thông của các nhân vị, giống như sự duy nhất giữa các Ngôi Vị thần linh với nhau (x. Chương Hai).
Số 1703 Được phú ban một linh hồn thiêng liêng và bất tử, nhân vị là “thụ tạo duy nhất nơi trần thế mà Thiên Chúa đã muốn vì chính nó” 24 . Ngay từ lúc tượng thai của mình, nhân vị được định hướng tới vinh phúc vĩnh cửu.
Số 1704 Nhân vị được tham dự vào ánh sáng và sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa. Nhờ lý trí, nó có khả năng để hiểu biết trật tự muôn loài do Đấng Tạo Hoá thiết lập. Nhờ ý chí, nó có khả năng để hướng mình tới điều thiện hảo thật của mình. Nó theo đuổi sự trọn hảo của mình bằng cách tìm kiếm và yêu mến những điều thiện hảo đích thực.
Số 1705 Vì có linh hồn và các tài năng tinh thần là lý trí và ý chí, con người được phú ban sự tự do, là “dấu chỉ tuyệt hảo của hình ảnh thần linh" 25 .
Số 1706 Nhờ lý trí, con người nhận ra tiếng Thiên Chúa thúc đẩy mình “làm điều tốt và tránh điều xấu” 26 . Mỗi người phải vâng theo lề luật này, một lề luật đang vang vọng trong lương tâm, một lề luật được chu toàn trong sự mến Chúa yêu người. Việc thực thi đời sống luân lý chứng tỏ phẩm giá của nhân vị.
Số 1707 "Tuy nhiên, ngay từ lúc khởi đầu lịch sử, con người bị thần Dữ cám dỗ, nên đã lạm dụng tự do của mình” 27 . Họ sa chước cám dỗ và làm điều xấu. Con người vẫn còn khát khao điều tốt, nhưng bản tính con người đã mang vết thương của nguyên tội. Con người trở thành bị nghiêng chiều về điều xấu và dễ bị sai lầm: “Con người đã bị chia rẽ trong chính bản thân mình. Vì vậy, toàn bộ đời sống con người, cả cá nhân cả tập thể, đều biểu hiện như một cuộc chiến bi thảm, giữa điều tốt và điều xấu, giữa ánh sáng và tối tăm" 28 .
Số 1708 Bằng cuộc khổ nạn của Người, Đức Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi Satan và tội lỗi. Người lập công cho chúng ta có sự sống mới trong Chúa Thánh Thần. Ân sủng của Người phục hồi những gì tội lỗi đã làm hư hỏng nơi chúng ta.
Số 1709 Ai tin vào Đức Kitô thì trở nên con cái Thiên Chúa. Ơn được làm nghĩa tử này biến đổi người ấy, giúp họ sống theo mẫu gương Đức Kitô. Ơn này ban cho họ khả năng hành động đúng đắn và thực thi điều tốt. Được kết hợp với Đấng Cứu độ của mình, người môn đệ đạt tới sự trọn hảo của đức mến, là sự thánh thiện. Được hoàn thiện trong ân sủng, đời sống luân lý sẽ được triển nở thành sự sống vĩnh cửu trong vinh quang trên trời.
TÓM LƯỢC Số 1710 “Đức Kitô... đã biểu lộ cho con người cách rất đầy đủ về chính họ và cho họ thấy ơn gọi rất cao cả của họ” 29 .
Số 1711 Được phú ban một linh hồn thiêng liêng, lý trí và ý chí, ngay từ lúc tượng thai, nhân vị đã được quy hướng về Thiên Chúa và được tiền định hướng tới vinh phúc muôn đời. Nó theo đuổi sự trọn hảo của mình bằng cách tìm kiếm và yêu mến những điều thiện hảo đích thực 30 .
Số 1712 “Sự tự do đích thực là dấu chỉ tuyệt hảo của hình ảnh thần linh nơi con người” 31 .
Số 1713 Con người phải vâng theo luật luân lý thúc đẩy họ “làm điều tốt và tránh điều xấu” 32 . Luật này vang vọng trong lương tâm của họ.
Số 1714 Con người, vì nguyên tội, đã bị tổn thương trong bản tính của mình, nên dễ bị sai lầm và nghiêng chiều về sự dữ khi sử dụng tự do của mình.
Số 1715 Ai tin vào Đức Kitô thì có sự sống mới trong Chúa Thánh Thần. Đời sống luân lý, được tăng trưởng và hoàn thiện trong ân sủng, sẽ được hoàn tất trong vinh quang trên trời.
Mục 2: Ơn gọi của chúng ta là đến hưởng vinh phúc I. CÁC MỐI PHÚC Số 1716 Các mối phúc là trung tâm lời rao giảng của Chúa Giêsu. Việc công bố các mối phúc là lặp lại các lời hứa đã được ban cho dân Chúa chọn khởi từ tổ phụ Abraham. Các mối phúc kiện toàn các lời hứa này, bằng cách không còn chỉ hướng đến việc thừa hưởng một mảnh đất nữa, nhưng là hướng đến Nước Trời: "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an. Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5,3-12).
Số 1717 Các mối phúc phác hoạ dung mạo của Chúa Giêsu Kitô và mô tả tình yêu của Người; chúng diễn tả ơn gọi của các tín hữu, những người được đồng phận trong vinh quang của cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Người; chúng minh hoạ những hành động và thái độ đặc trưng của đời sống Kitô giáo; chúng là những lời hứa nghịch lý, nâng đỡ niềm hy vọng trong những lúc gian truân; chúng loan báo cho các môn đệ những phúc lành và ân thưởng đã được quyết định tuy còn ẩn khuất; chúng đã được khởi đầu trong đời sống của Đức Trinh Nữ Maria và của tất cả các Thánh.
II. KHAO KHÁT HẠNH PHÚC Số 1718 Các mối phúc đáp ứng khao khát tự nhiên là được hạnh phúc. Khao khát này có nguồn gốc thần linh; Thiên Chúa đã đặt niềm khao khát đó trong trái tim con người để lôi kéo họ đến với Ngài, Đấng duy nhất có thể làm thỏa mãn sự khao khát này: “Chắc chắn mọi người chúng ta đều muốn sống hạnh phúc; và trong dòng giống loài người, không ai không đồng ý với điều này, cả trước khi nó được phát biểu cách rõ ràng 33 . “Lạy Chúa, con phải tìm Chúa thế nào? Quả thật, khi con tìm Chúa là Thiên Chúa của con, là con tìm đời sống hạnh phúc. Con muốn tìm Chúa, để linh hồn con được sống. Vì thân xác con sống nhờ linh hồn con và linh hồn con sống nhờ Chúa 34 . “Chỉ có Thiên Chúa mới làm no thoả 35 .
Số 1719 Các mối phúc cho thấy mục tiêu của sự hiện hữu nhân linh, mục đích tối hậu của các hành vi nhân linh: Thiên Chúa kêu gọi chúng ta đến hưởng vinh phúc riêng của Ngài. Ơn gọi này được gửi cho từng người một cách cá vị, nhưng cũng cho toàn thể Hội Thánh, là dân mới của những người đón nhận lời hứa và sống trong lòng tin vào lời hứa đó.
III. VINH PHÚC KITÔ GIÁO Số 1720 Tân Ước dùng nhiều kiểu nói để diễn tả vinh phúc mà Thiên Chúa kêu gọi con người đến hưởng: sự ngự đến của Nước Thiên Chúa 36 ; sự nhìn thấy Thiên Chúa: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa (Mt 5,8) 37 ; vào hưởng niềm vui của Chúa 38 ; vào chốn yên nghỉ của Thiên Chúa 39 : “Ở đó chúng ta sẽ yên nghỉ và chiêm ngắm, chúng ta sẽ chiêm ngắm và yêu mến, chúng ta sẽ yêu mến và ca ngợi. Đó sẽ là cùng đích vô tận. Vậy chúng ta còn có cùng đích nào khác, nếu không phải là đạt tới Nước vô cùng vô tận? 40
Số 1721 Thiên Chúa đã đặt chúng ta ở trần gian để chúng ta nhận biết Ngài, phục vụ Ngài và yêu mến Ngài để như vậy chúng ta đạt tới thiên đàng. Vinh phúc làm cho chúng ta “được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4) và sự sống muôn đời 41 . Với vinh phúc này, con người bước vào vinh quang của Đức Kitô 42 và vào vui hưởng sự sống của Chúa Ba Ngôi.
Số 1722 Vinh phúc như vậy vượt quá sự hiểu biết và sức lực riêng của con người. Vinh phúc đó được ban do hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. Vì vậy, nó được gọi là siêu nhiên, cũng như ân sủng chuẩn bị con người vào vui hưởng Thiên Chúa. "Phúc thay những người có trái tim trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. Nhưng vì sự cao cả và vinh quang khôn tả của Ngài, nên không ai trông thấy Ngài mà còn sống được, tuy nhiên, Chúa Cha, Đấng không thể đạt thấu, do tình yêu và lòng nhân hậu của Ngài, và bởi vì Ngài có thể làm được mọi sự, cũng đã ban cho những ai yêu mến Ngài điều này, là được nhìn thấy Ngài: vì những gì đối với loài người là không thể được, thì đối với Thiên Chúa lại là có thể 43 .
Số 1723 Vinh phúc được hứa ban đặt chúng ta trước những lựa chọn luân lý có tính quyết định. Vinh phúc đó mời gọi chúng ta thanh luyện trái tim khỏi những bản năng xấu và tìm kiếm tình yêu của Thiên Chúa trên hết mọi sự. Nó dạy chúng ta biết rằng hạnh phúc thật không cốt tại của cải trần thế hoặc tiện nghi, cũng không phải trong vinh quang nhân loại hay quyền lực, cũng không phải trong công trình nhân loại nào, cho dù là hữu ích, như khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật, cũng không ở trong bất cứ tạo vật nào, nhưng duy chỉ ở nơi Thiên Chúa, là nguồn mạch mọi điều thiện hảo và mọi tình yêu: “Ngày nay, giàu sang là vị thần vĩ đại; nhiều người, hàng lớp người tự nguyện sùng bái vị thần này. Họ đo lường hạnh phúc bằng tài sản; họ đo lường cả sự đáng kính cũng bằng tài sản.... Điều đó phát sinh do sự xác tín của chúng ta ... theo đó thì có tiền thì mọi sự đều có thể. Vì vậy giàu sang là một trong những ngẫu tượng của thời đại ngày nay, và danh tiếng là một ngẫu tượng khác.... Danh tiếng, được người ta biết đến, có tiếng tăm ở trần gian, đưa đến chỗ chính danh tiếng được coi là điều thiện hảo, là điều thiện hảo cao cả, là đối tượng cho người ta kính trọng... Đó có thể được gọi là sự nổi tiếng trên báo chí 44 .
Số 1724 Mười Điều Răn, Bài giảng trên núi và giáo lý của các Tông Đồ mô tả cho chúng ta những con đường dẫn đến Nước Trời. Chúng ta tiến từng bước trên những con đường này qua những hành vi hằng ngày, được nâng đỡ bởi ân sủng của Chúa Thánh Thần. Được sinh sôi nảy nở bằng lời Đức Kitô, chúng ta từ từ mang lại hoa trái trong Hội Thánh để tôn vinh Thiên Chúa 45 .
TÓM LƯỢC Số 1725 Các mối phúc lặp lại và kiện toàn các lời hứa của Thiên Chúa khởi từ tổ phụ Abraham bằng việc quy hướng các lời hứa đó đến Nước Trời. Chúng đáp ứng niềm khao khát hạnh phúc mà Thiên Chúa đã đặt trong trái tim con người.
Số 1726 Các mối phúc dạy chúng ta biết cùng đích tối hậu mà Thiên Chúa kêu gọi chúng ta đạt tới: Nước Thiên Chúa, nhìn thấy Thiên Chúa, thông phần bản tính thần linh, sự sống muôn đời, làm con Thiên Chúa và yên nghỉ trong Thiên Chúa.
Số 1727 Vinh phúc được sống muôn đời là hồng ân nhưng không của Thiên Chúa; vinh phúc này, cũng như ân sủng dẫn đưa chúng ta đến đó, đều là hồng ân siêu nhiên.
Số 1728 Các mối phúc đặt chúng ta trước những lựa chọn luân lý có tính quyết định về của cải trần thế; chúng thanh luyện trái tim chúng ta để dạy chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự.
Số 1729 Vinh phúc trên trời ấn định những tiêu chuẩn để phân định việc sử dụng của cải trần thế theo Lề luật của Thiên Chúa.
Mục 3: Sự tự do của con người Số 1730 Thiên Chúa đã tạo dựng con người có lý trí, khi ban cho họ phẩm giá của một ngôi vị, có khả năng khởi xướng và điều khiển các hành vi của mình. “Thiên Chúa đã muốn con người tự quyết định lấy (Hc 15,14), để chính họ tự nguyện tìm kiếm Đấng Tạo Hoá của mình và tự do đạt tới sự hoàn hảo sung mãn và hạnh phúc bằng việc kết hợp với Ngài 46 . “Con người có lý trí, và do đó giống như Thiên Chúa; con người được dựng nên có tự do trong sự quyết định và có quyền trên chính mình 47 .
I. TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM Số 1731 Tự do là khả năng, bắt nguồn từ lý trí và ý chí, có thể hành động hay không hành động, có thể làm việc này hoặc việc khác, và như vậy, tự mình làm những hành động có ý thức. Nhờ có ý chí tự do, mỗi người tự quyết định về chính bản thân mình. Trong con người, sự tự do là một sức mạnh để tăng trưởng và trưởng thành trong chân lý và điều thiện. Sự tự do đạt tới mức hoàn hảo, khi nó được quy hướng về Thiên Chúa, là vinh phúc của chúng ta.
Số 1732 Bao lâu sự tự do chưa được xác định cách vĩnh viễn nơi sự thiện tối thượng, là Thiên Chúa, thì nó vẫn còn có khả năng lựa chọn giữa điều tốt và điều xấu, nghĩa là có thể tiến tới sự trọn hảo hoặc có thể sai lỗi và phạm tội. Tự do là nét đặc trưng của các hành vi nhân linh. Tự do là nguồn mạch để được ca tụng hoặc bị khiển trách, nguồn mạch của công trạng hoặc tội trạng.
Số 1733 Ai càng làm điều tốt, người đó càng trở nên tự do. Không có tự do đích thực nếu không phục vụ điều thiện và chân lý. Chọn sự bất tuân và điều xấu, là lạm dụng tự do và sự lựa chọn này đưa chúng ta vào vòng nô lệ tội lỗi 48 .
Số 1734 Vì có tự do, con người phải chịu trách nhiệm về các hành vi của mình theo mức độ các hành vi này do chính họ muốn. Sự tiến tới về nhân đức, sự nhận biết điều thiện và sự khổ chế làm gia tăng việc làm chủ của ý chí đối với các hành vi của mình.
Số 1735 Việc quy tội và trách nhiệm của một hành động nào đó có thể được giảm thiểu và thậm chí được loại bỏ vì lý do không biết, không chú ý, do áp lực, do sợ hãi, do thói quen, do quá gắn bó, và do các nguyên nhân khác về tâm thần hoặc xã hội.
Số 1736 Mọi hành vi được muốn cách trực tiếp đều quy trách nhiệm về tác giả hành vi đó: Chẳng hạn, Chúa hỏi ông Ađam sau khi ông phạm tội trong vườn địa đàng: “Ngươi đã làm gì thế?" (St 3,13). Cũng một cách đó, Chúa hỏi ông Cain 49 . Tiên tri Nathan cũng hỏi như vậy với vua Đavid sau khi vua phạm tội ngoại tình với vợ ông Uria và ra lệnh giết ông này 50 . Một hành vi có thể là chủ ý cách gián tiếp, khi nó là hậu quả của sự chểnh mảng đối với điều phải biết hay phải làm, thí dụ gây ra một tai nạn vì không biết luật giao thông.
Số 1737 Một hậu quả, do tác giả không chủ ý gây nên, có thể được dung thứ; thí dụ người mẹ bị kiệt sức vì chăm sóc đứa con đau yếu. Một hậu quả xấu sẽ không bị quy tội, nếu nó không phải là mục đích hay phương tiện của một hành động cố ý, thí dụ một người bị thiệt mạng vì cứu người đang gặp nguy hiểm. Để một hậu quả xấu bị quy tội, hậu quả này phải có thể được thấy trước, và tác giả có khả năng tránh được hậu quả đó, thí dụ trường hợp làm chết người do lái xe trong tình trạng say rượu.
Số 1738 Sự tự do được thực thi trong các tương quan giữa người với người. Mỗi nhân vị, được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, có quyền tự nhiên được công nhận như một hữu thể tự do và có trách nhiệm. Mọi người có bổn phận tôn trọng quyền đó của mỗi người. Quyền sử dụng sự tự do là một đòi hỏi không thể tách biệt khỏi phẩm giá của nhân vị, đặc biệt trong lãnh vực luân lý và tôn giáo 51 . Quyền này phải được luật dân sự công nhận và bảo vệ trong các giới hạn của công ích và trật tự công cộng chính đáng 52 .
II. SỰ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI TRONG NHIỆM CỤC CỨU ĐỘ Số 1739 Sự tự do và tội lỗi. Sự tự do của con người thì có giới hạn và có thể lầm lạc. Quả thật, con người đã sa ngã. Con người đã phạm tội cách tự do. Khi từ chối kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, con người đã tự lừa dối mình; và trở thành nô lệ của tội lỗi. Sự tha hoá đầu tiên này đã sinh ra nhiều sự tha hoá khác. Lịch sử nhân loại, ngay từ những lúc khởi đầu, làm chứng rằng những tai họa và áp bức đã phát sinh từ trái tim con người, như hậu quả của việc sử dụng sai sự tự do.
Số 1740 Những nguy hiểm đe dọa sự tự do. Việc thực thi sự tự do không bao hàm quyền được nói mọi sự và làm mọi sự. Thật là sai lầm khi cho rằng “con người, một chủ thể của tự do, là một cá nhân tự đủ cho mình, và mục tiêu tối hậu của cá nhân đó, là thoả mãn các sở thích của mình bằng cách hưởng thụ các của cải trần thế 53 . Ngoài ra, những điều kiện về trật tự kinh tế và xã hội, chính trị và văn hóa phải có để thực thi tự do cách chính đáng, rất thường không được biết tới và bị vi phạm. Những tình trạng đen tối và bất công này làm băng hoại đời sống luân lý và cám dỗ kẻ mạnh cũng như người yếu phạm tội nghịch đức bác ái. Con người, khi tách biệt mình khỏi luật luân lý, làm tổn thương sự tự do riêng của mình, tự trói buộc mình, cắt đứt tình huynh đệ với đồng loại và nổi loạn chống lại chân lý thần linh.
Số 1741 Sự giải thoát và cứu độ. Đức Kitô, nhờ thập giá vinh quang của Người, đã mang lại ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Người cứu chuộc họ khỏi tội lỗi đang cầm giữ họ làm nô lệ. “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta (Gl 5,1). Trong Người, chúng ta được hiệp thông với chân lý giải thoát chúng ta 37 . Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta và như thánh Tông Đồ dạy: “Ở đâu có Thần Khí của Chúa thì ở đó có tự do” (2 Cr 3,17). Ngay bây giờ, chúng ta được vinh dự về sự tự do của con cái Thiên Chúa 38 .
Số 1742 Sự tự do và ân sủng. Ân sủng của Đức Kitô không hề đối nghịch với sự tự do của chúng ta, khi sự tự do này phù hợp với ý nghĩa của chân lý và điều thiện mà Thiên Chúa đã đặt trong trái tim con người. Trái lại, như kinh nghiệm Kitô giáo chứng tỏ nhất là trong việc cầu nguyện, chúng ta càng ngoan ngoãn đối với những thúc đẩy của ân sủng, thì càng được gia tăng sự tự do nội tâm của chúng ta và sự vững vàng của chúng ta trong các thử thách, cũng như trước những áp lực và cưỡng bách của thế giới bên ngoài. Bằng tác động của ân sủng, Chúa Thánh Thần giáo dục chúng ta về sự tự do thiêng liêng, để làm cho chúng ta trở thành những cộng sự viên tự nguyện cho công trình của Ngài trong Hội Thánh và trong trần gian: “Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, xin đẩy xa những gì cản bước tiến của chúng con trên đường về với Chúa, để một khi xác hồn thanh thản, chúng con được hoàn toàn tự do thực hiện ý Chúa" 39 .
TÓM LƯỢC Số 1743 “Thiên Chúa đã muốn con người tự quyết định lấy” (Hc 15,14) để họ có thể tự nguyện gắn bó với Đấng Tạo Hoá của mình và như vậy có thể đạt tới vinh phúc hoàn hảo 40 .
Số 1744 Sự tự do là khả năng để hành động hay không hành động và như vậy tự mình làm những hành động có ý thức. Sự tự do đạt tới mức hoàn hảo khi nó được quy hướng về Thiên Chúa là sự thiện tối thượng.
Số 1745 Tự do là nét đặc trưng của các hành vi nhân linh. Vì có tự do, con người phải chịu trách nhiệm về các hành vi mình chủ ý làm. Hành động chủ ý thuộc về chính tác giả.
Số 1746 Việc quy tội và trách nhiệm của một hành động nào đó có thể được giảm thiểu hay được loại bỏ vì lý do không biết, do áp lực, do sợ hãi, và do các nguyên nhân khác về tâm thần hoặc xã hội.
Số 1747 Quyền sử dụng sự tự do là một đòi hỏi không thể tách biệt khỏi phẩm giá của nhân vị, đặc biệt trong lãnh vực tôn giáo và luân lý. Nhưng việc thực thi sự tự do không bao hàm quyền tiên quyết được làm mọi sự hoặc nói mọi sự.
Số 1748 “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta (Gl 5,1).
Mục 4: Tính luân lý của các hành vi nhân linh Số 1749 Sự tự do làm cho con người thành một chủ thể luân lý. Con người, khi hành động một cách có chủ ý, có thể nói được là cha đẻ các hành vi của mình. Các hành vi nhân linh, nghĩa là, các hành vi đã được lựa chọn cách tự do theo phán đoán của lương tâm, đều có tính luân lý: chúng là những hành vi tốt hoặc xấu.
I. CÁC NGUỒN MẠCH CỦA TÍNH LUÂN LÝ Số 1750 Tính luân lý của các hành vi nhân linh tùy thuộc vào: đối tượng được lựa chọn; mục đích nhắm tới hoặc ý hướng; các hoàn cảnh của hành động. Đối tượng, ý hướng và các hoàn cảnh tạo nên các “nguồn mạch”, còn gọi là các yếu tố cấu thành, của tính luân lý của các hành vi nhân linh.
Số 1751 Đối tượng được lựa chọn là điều thiện được ý chí chủ ý nhắm tới. Đó là chất liệu của hành vi nhân linh. Đối tượng được lựa chọn xếp loại hành vi của ý chí về mặt luân lý, theo như lý trí nhận biết và phán đoán đối tượng ấy phù hợp hay không phù hợp với điều thiện đích thực. Những quy tắc khách quan của tính luân lý vạch cho thấy trật tự hợp lý về điều tốt và điều xấu, một trật tự được lương tâm xác nhận.
Số 1752 Đối diện với đối tượng, ý hướng ở về phía chủ thể hành động. Vì ý hướng là từ nguồn mạch chủ ý của một hành động và xác định hành động đó nhờ mục đích, nên nó là yếu tố căn bản trong việc đánh giá tính luân lý của hành động. Mục đích là điểm đầu tiên của ý hướng và đưa ra mục tiêu mà hành động theo đuổi. Ý hướng là động thái của ý chí hướng tới mục đích; nhắm đến đích điểm của hành động. Ý hướng là việc nhắm tới điều thiện được mong đợi khi bắt đầu hành động. Ý hướng không bị thu hẹp vào việc định hướng cho từng hành động riêng lẻ, nhưng có thể quy hướng nhiều hành động nhắm đến cùng một mục tiêu; ý hướng có thể định hướng cả cuộc đời nhắm đến mục đích tối hậu. Chẳng hạn, một việc phục vụ được thực hiện có mục đích là giúp đỡ người lân cận, nhưng đồng thời nó có thể được linh hứng bởi tình yêu Thiên Chúa, xét như mục đích tối hậu của mọi hành động của chúng ta. Cùng một hành động cũng có thể được gợi hứng do nhiều ý hướng, như phục vụ để nhận được một đặc ân hoặc để khoe khoang.
Số 1753 Một ý hướng tốt (thí dụ: giúp đỡ người lân cận) không thể làm cho một hành động tự nó là sai trái (như nói dối, nói xấu), trở thành tốt hay đúng. Mục đích không biện minh cho các phương tiện. Như vậy việc kết án người vô tội không thể được biện minh như một phương tiện hợp pháp để cứu dân. Trái lại, một ý hướng xấu được thêm vào (như tìm hư danh) có thể làm cho một hành vi tự nó có thể là tốt (như việc bố thí 41 ) trở thành xấu.
Số 1754 Các hoàn cảnh, gồm cả những hậu quả, là những yếu tố phụ thuộc của một hành vi luân lý. Chúng góp phần làm gia tăng hay giảm thiểu tính chất tốt hay xấu về mặt luân lý của các hành vi nhân linh (thí dụ số lượng của một vụ ăn cắp nào đó). Chúng cũng có thể làm giảm thiểu hay gia tăng trách nhiệm của tác giả (như hành động vì sợ chết). Tự chúng, các hoàn cảnh không thể thay đổi phẩm chất luân lý của chính các hành vi; chúng không thể làm cho một hành vi tự nó là xấu, có thể trở nên tốt hay đúng.
II. HÀNH VI TỐT VÀ HÀNH VI XẤU Số 1755 Một hành vi tốt về mặt luân lý đồng thời giả thiết đối tượng, mục đích và các hoàn cảnh đều phải tốt. Mục đích xấu làm hư hoại hành động, mặc dù đối tượng của hành động tự nó là tốt (như cầu nguyện và ăn chay để được người ta trông thấy). Đối tượng được lựa chọn có thể một mình nó làm cho toàn bộ hành động trở nên xấu. Có những hành động cụ thể như tội tà dâm mà việc lựa chọn chúng là luôn luôn sai lầm, bởi vì việc lựa chọn chúng đã bao hàm một sự lệch lạc của ý chí, nghĩa là, một điều xấu luân lý.
Số 1756 Vì vậy, là sai lầm, nếu thẩm định tính luân lý của các hành vi nhân linh, mà chỉ quan tâm đến ý hướng gợi hứng cho các hành vi đó, hoặc các hoàn cảnh như là “sân khấu” của các hành vi đó (môi trường, áp lực xã hội, sự cưỡng bách hoặc nhu cầu phải hành động...). Có những hành vi, tự nó và trong nó, hoàn toàn độc lập khỏi các hoàn cảnh và các ý hướng, luôn là bất hợp pháp một cách nghiêm trọng do đối tượng của chúng; chẳng hạn lộng ngôn và thề gian, sát nhân và ngoại tình. Không được phép làm điều xấu, để từ đó đạt tới điều tốt.
TÓM LƯỢC Số 1757 Đối tượng, ý hướng và các hoàn cảnh tạo nên ba “nguồn mạch” của tính luân lý của các hành vi nhân linh.
Số 1758 Đối tượng được lựa chọn xếp loại hành vi của ý chí về mặt luân lý, theo như lý trí nhận biết và phán đoán đối tượng ấy là tốt hay xấu.
Số 1759 “Không việc xấu nào được biện minh bằng ý hướng tốt” 42 . Mục đích không biện minh cho các phương tiện.
Số 1760 Một hành vi tốt về mặt luân lý đồng thời giả thiết phải có đối tượng, mục đích và các hoàn cảnh đều tốt.
Số 1761 Có những hành động cụ thể mà việc lựa chọn chúng là luôn luôn sai lầm, bởi vì việc lựa chọn chúng đã bao hàm một sự lệch lạc của ý chí, nghĩa là, một điều xấu luân lý. Không được phép làm điều xấu để từ đó đạt tới điều tốt.
Mục 5: Tính luân lý của các đam mê Số 1762 Nhân vị được quy hướng tới vinh phúc nhờ những hành vi chủ ý của mình: các đam mê hoặc tình cảm mà nó cảm nghiệm, có thể chuẩn bị hoặc góp phần giúp nó đạt tới vinh phúc đó.
I. CÁC ĐAM MÊ Số 1763 Thuật ngữ “các đam mê” thuộc về gia sản Kitô giáo. Các tình cảm hoặc các đam mê là những cảm xúc, những chuyển biến hay những rung động của sự nhạy cảm, chúng thúc đẩy con người hành động hay không hành động, theo điều được cảm nhận hoặc tưởng tượng là tốt hoặc xấu.
Số 1764 Các đam mê là những yếu tố tự nhiên của tâm lý con người. Chúng tạo thành nơi chuyển tiếp và bảo đảm mối liên kết giữa đời sống cảm giác và đời sống tinh thần. Chúa chúng ta coi trái tim con người như là nguồn mạch từ đó phát xuất các chuyển biến của đam mê 43 .
Số 1765 Có nhiều thứ đam mê. Đam mê căn bản nhất là tình yêu, được gợi lên do sự hấp dẫn của điều thiện. Tình yêu gây nên sự khao khát điều thiện mình chưa có và niềm hy vọng đạt được điều thiện đó. Động thái này được hoàn thành trong việc thưởng thức điều thiện đã sở hữu và trong sự vui mừng về điều đó. Sự hiểu biết điều ác gây nên lòng thù ghét, ghê tởm và sợ hãi điều ác sắp đến. Động thái này được hoàn thành trong sự buồn sầu khi điều ác hiện diện, và trong sự phẫn nộ chống lại điều ác đó.
Số 1766 “Yêu là muốn điều tốt cho một ai đó” 44 . Tất cả những tình cảm khác đều bắt nguồn từ động thái gốc này của trái tim con người về điều tốt. Không gì khác được yêu mến trừ điều tốt 45 . “Vì vậy các tình cảm là xấu, nếu là tình yêu xấu, các tình cảm là tốt, nếu là tình yêu tốt” 46 .
II. CÁC ĐAM MÊ VÀ ĐỜI SỐNG LUÂN LÝ Số 1767 Các đam mê, tự chúng, thì không tốt cũng không xấu. Chúng được đánh giá về mặt luân lý tùy theo mức độ chúng lệ thuộc thật sự vào lý trí hoặc ý chí. Các đam mê được gọi là có chủ ý “hoặc khi chúng được điều khiển bởi ý chí, hoặc khi chúng không bị ngăn cản bởi ý chí” 47 . Muốn đạt tới sự hoàn hảo của điều thiện về mặt luân lý hay nhân linh, các đam mê phải được điều khiển bởi lý trí 48 .
Số 1768 Những cảm giác mạnh mẽ của tâm hồn không quyết định tính luân lý hay sự thánh thiện của các nhân vị; chúng chỉ là kho chứa vô tận những hình ảnh và tình cảm trong đó đời sống luân lý được diễn tả. Về mặt luân lý, các đam mê là tốt khi đưa đến một hành động tốt, và là xấu trong trường hợp ngược lại. Ý chí ngay thẳng quy hướng các động thái giác quan, mà nó đảm nhận, về điều tốt và về vinh phúc; còn ý chí xấu thì ngả theo các đam mê hỗn loạn và làm cho chúng thêm tồi tệ. Các cảm xúc và cảm giác có thể được thăng hoa thành các nhân đức, hoặc bị thoái hoá thành các thói xấu.
Số 1769 Trong đời sống Kitô hữu, chính Chúa Thánh Thần kiện toàn công trình của Ngài, khi động viên toàn bộ nhân vị, kể cả những đau khổ, sợ hãi và buồn phiền của họ, như ta thấy trong cơn hấp hối và cuộc khổ nạn của Chúa. Trong Đức Kitô, những tình cảm nhân loại có thể được hoàn tất trong đức mến và vinh phúc thần linh.
Số 1770 Sự trọn hảo về mặt luân lý là con người được động viên hướng tới điều thiện không những bằng ý chí của mình, mà còn bằng sự thích thú giác quan nữa, theo như lời thánh vịnh: “Cả tấm thân con cùng là tấc dạ những hướng lên Chúa Trời hằng sống mà hớn hở reo mừng” (Tv 84,3).
TÓM LƯỢC Số 1771 Thuật ngữ “đam mê” chỉ những tình cảm hay cảm giác. Nhờ những cảm xúc của mình, con người linh cảm điều tốt hoặc nghi ngờ điều xấu.
Số 1772 Những đam mê chính là yêu và ghét, ước muốn và sợ hãi, vui, buồn và phẫn nộ.
Số 1773 Trong các đam mê, xét như những động thái của cảm giác, không có điều tốt hoặc điều xấu về mặt luân lý. Nhưng nơi chúng có điều tốt hoặc điều xấu về mặt luân lý là do chúng lệ thuộc hay không lệ thuộc vào lý trí và ý chí.
Số 1774 Những cảm xúc và tình cảm có thể được thăng hoa thành các nhân đức, hoặc bị thoái hoá thành các thói xấu.
Số 1775 Sự trọn hảo của điều tốt về mặt luân lý là con người được động viên hướng tới điều thiện không những bằng ý chí, mà còn bằng cả “trái tim” của họ nữa.
Mục 6: Lương tâm Số 1776 "Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật, mà chính con người không tự đặt ra cho mình, nhưng con người phải tuân theo lề luật đó, và tiếng nói của lề luật đó, luôn luôn kêu gọi con người yêu mến và làm điều tốt cũng như tránh điều xấu, vào lúc cần thiết, tiếng nói ấy vang lên trong trái tim con người.... Quả thật, con người có một lề luật được Thiên Chúa khắc ghi trong trái tim họ.... Lương tâm là hạt nhân bí ẩn nhất và là cung thánh của con người, nơi con người ở một mình với Thiên Chúa, và tiếng nói của Ngài vang dội trong thẳm sâu lòng họ” 49 .
I. PHÁN ĐOÁN CỦA LƯƠNG TÂM Số 1777 Lương tâm, hiện diện trong trái tim của nhân vị, ra lệnh cho nó, vào đúng lúc, phải làm lành lánh dữ. Lương tâm cũng phán đoán các lựa chọn cụ thể, là chuẩn y những lựa chọn tốt, phản đối những lựa chọn xấu. Lương tâm chứng nhận thẩm quyền về chân lý liên quan đến Đấng là sự thiện tối thượng, mà nhân vị cảm nghiệm được sự lôi kéo của Ngài và đón nhận các lệnh truyền của Ngài. Người khôn ngoan, khi lắng nghe lương tâm, có thể nghe Thiên Chúa nói.
Số 1778 Lương tâm là sự phán đoán của lý trí, nhờ đó, nhân vị nhận thức được phẩm chất luân lý của một hành vi cụ thể mình sắp làm, đang làm hay đã làm. Con người, trong mọi điều mình nói hoặc làm, buộc phải trung thành theo điều mình biết là chính đáng và trung thực. Con người, nhờ phán đoán của lương tâm của mình, cảm thấy và nhận biết những quy định của Lề luật thần linh: “Lương tâm là một lề luật của tinh thần chúng ta, nhưng lại vượt quá tinh thần chúng ta, nó đưa ra cho chúng ta những quy định, nó nói lên trách nhiệm và bổn phận, sự sợ hãi và niềm hy vọng... Lương tâm là sứ giả của Đấng, trong trật tự tự nhiên cũng như trong trật tự ân sủng, nói với chúng ta sau một bức màn, dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta. Lương tâm là vị đại diện thứ nhất trong tất cả các đại diện của Đức Kitô 52 .
Số 1779 Điều quan trọng là mỗi người phải hiện diện với chính mình, để lắng nghe và tuân theo tiếng lương tâm của mình. Sự đòi hỏi sống nội tâm là rất cần thiết, vì đời sống thường dẫn chúng ta đến nguy cơ là chúng ta bị lôi kéo khỏi mọi suy tư, kiểm điểm hay hồi tâm: “Bạn hãy quay về với lương tâm của bạn, hãy tự vấn lương tâm.... Thưa anh em, hãy quay về với nội tâm và trong mọi sự anh em làm, hãy nhìn lên chứng nhân là Thiên Chúa" 53 .
Số 1780 Phẩm giá của nhân vị bao hàm và đòi hỏi sự ngay chính của lương tâm. Lương tâm gồm có việc nhận thức các nguyên tắc luân lý (synderesim), việc áp dụng những nguyên tắc đó vào các hoàn cảnh cụ thể nhờ phân định thực tiễn các lý lẽ và các lợi ích, và cuối cùng, việc phán đoán về các hành vi cụ thể phải làm hay đã làm. Chân lý về điều thiện luân lý, đã được lý trí nêu lên, được nhận biết cách thực tiễn và cụ thể nhờ phán đoán khôn ngoan của lương tâm. Người chọn theo phán đoán này được gọi là kẻ khôn ngoan.
Số 1781 Lương tâm cho phép đảm nhận trách nhiệm về những hành vi đã thực hiện. Nếu con người làm điều xấu, phán đoán ngay chính của lương tâm nơi người đó có thể là chứng nhân cho chân lý phổ quát của điều tốt, đồng thời cũng là chứng nhân cho sự xấu xa của việc lựa chọn riêng của người đó. Án lệnh do phán đoán của lương tâm cũng là bảo chứng cho niềm hy vọng và lòng thương xót. Khi xác nhận lỗi lầm đã phạm, lương tâm nhắc nhở chúng ta phải cầu xin ơn tha thứ, phải làm điều tốt và phải không ngừng vun trồng nhân đức nhờ ân sủng của Thiên Chúa: “Chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa. Vì nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự” (1 Ga 3,19-20).
Số 1782 Con người có quyền hành động cách tự do theo lương tâm, để có thể đảm nhận những quyết định luân lý một cách cá vị. “Không được cưỡng bức ai hành động trái với lương tâm của họ. Cũng không được ngăn cản họ hành động theo lương tâm của họ, nhất là trong vấn đề tôn giáo” 54 .
II. VIỆC HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM Số 1783 Lương tâm phải được trở nên vững chắc hơn và sự phán đoán luân lý phải được soi sáng. Một lương tâm được huấn luyện tốt thì ngay chính và chân thật. Nó sẽ đưa ra những phán đoán theo lý trí, phù hợp với điều thiện đích thực mà Đấng Tạo Hoá khôn ngoan muốn. Việc giáo dục lương tâm là cần thiết cho con người, vì họ đang bị chi phối bởi các ảnh hưởng tiêu cực và bị cám dỗ bởi tội lỗi, nên thích làm theo ý riêng hơn và khước từ những đạo lý được đưa ra một cách có thẩm quyền.
Số 1784 Việc giáo dục lương tâm là nhiệm vụ của cả cuộc đời. Ngay từ những năm đầu tiên, việc giáo dục gợi lên cho trẻ em sự nhận biết và thực hành luật nội tâm được lương tâm công nhận. Một nền giáo dục khôn ngoan dạy nhân đức; đề phòng và chữa lành con người khỏi sợ hãi, khỏi yêu mình cách mù quáng (“tính ích kỷ”) và khỏi kiêu căng, khỏi những mặc cảm tội lỗi và thái độ tự mãn, phát sinh từ sự yếu đuối và những lỗi lầm của con người. Việc giáo dục lương tâm bảo đảm cho sự tự do và tạo nên sự bình an trong trái tim.
Số 1785 Trong việc huấn luyện lương tâm, Lời Chúa là ánh sáng soi đường cho chúng ta. Chúng ta phải thấm nhuần Lời Chúa vào trong đức tin và kinh nguyện, và phải đem ra thực hành. Chúng ta cũng phải kiểm điểm lương tâm bằng cách nhìn lên thập giá của Chúa. Các hồng ân của Chúa Thánh Thần trợ giúp chúng ta, chúng ta còn được giúp đỡ bởi lời chứng và lời khuyên nhủ của những người khác và được hướng dẫn bởi đạo lý của Hội Thánh được đưa ra một cách có thẩm quyền 55 .
III. LỰA CHỌN THEO LƯƠNG TÂM Số 1786 Lương tâm, đứng trước một lựa chọn luân lý, có thể đưa ra, hoặc một phán đoán ngay chính phù hợp với lý trí và Lề luật thần linh, hoặc trái lại, một phán đoán sai lầm, xa rời lý trí và Lề luật thần linh.
Số 1787 Con người đôi khi gặp những hoàn cảnh làm cho phán đoán luân lý không được chắc chắn và khó quyết định. Tuy nhiên, họ phải luôn tìm kiếm điều đúng và tốt, và phân định ra thánh ý của Thiên Chúa được diễn tả trong Lề luật thần linh.
Số 1788 Để đạt được điều này, con người phải cố gắng giải thích các dữ kiện của kinh nghiệm và các dấu chỉ thời đại, nhờ đức khôn ngoan, nhờ những lời khuyên bảo của những người khôn ngoan và nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần và của các hồng ân của Ngài.
Số 1789 Một số quy tắc được áp dụng trong mọi trường hợp: Không bao giờ được làm điều xấu để đạt tới điều tốt. “Khuôn vàng thước ngọc”: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta (Mt 7,12) 56 . Đức mến luôn đòi hỏi tôn trọng người lân cận và lương tâm của họ. “Như vậy, phạm đến anh em và làm thương tổn lương tâm yếu đuối của họ là phạm đến Đức Kitô” (1 Cr 8,12). “Tốt nhất là ... tránh những gì có thể gây cớ cho anh em mình vấp ngã (Rm 14,21).
IV. PHÁN ĐOÁN SAI LẦM Số 1790 Con người phải luôn tuân theo phán đoán chắc chắn của lương tâm mình. Nếu chủ ý hành động nghịch với phán đoán đó, con người tự kết án chính mình. Nhưng có thể lương tâm ở trong tình trạng thiếu hiểu biết, và đưa ra những phán đoán sai lầm về các hành vi phải làm hoặc đã làm.
Số 1791 Sự thiếu hiểu biết này thường có thể được quy cho trách nhiệm cá vị. Điều đó xảy ra, “khi con người ít lo tìm kiếm điều thật và điều tốt, cũng như khi vì thói quen phạm tội mà lương tâm dần dần hầu như bị mù quáng” 57 . Trong các trường hợp đó, nhân vị bị quy tội vì điều xấu nó đã làm.
Số 1792 Sự thiếu hiểu biết Đức Kitô và Tin Mừng của Người, các gương xấu của kẻ khác, sự nô lệ các đam mê, việc đòi hỏi một sự tự lập hiểu theo nghĩa xấu về lương tâm, việc khước từ thẩm quyền và đạo lý của Hội Thánh, sự thiếu hối cải và bác ái... có thể là nguồn gốc của những lệch lạc của phán đoán trong thái độ luân lý.
Số 1793 Trái lại, nếu sự thiếu hiểu biết là không thể vượt thắng được, hoặc nếu phán đoán sai lầm không do trách nhiệm của chủ thể luân lý, thì nhân vị không thể bị quy tội về điều xấu nó đã làm. Tuy nhiên, điều xấu ấy vẫn là một điều xấu, một khiếm khuyết, một sự vô trật tự. Vậy cần thiết là phải làm sao để lương tâm được sửa chữa khỏi những sai lầm của nó.
Số 1794 Lương tâm tốt và trong sạch được soi sáng bởi đức tin chân thật. Vì đức mến xuất phát đồng thời từ “tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình” (1 Tm 1,5) 58 . “Lương tâm ngay thẳng càng chiếm ưu thế thì các nhân vị và các tập thể càng tránh được sự quyết định mù quáng và càng nỗ lực sống phù hợp với những quy định khách quan của luân lý” 59 .
TÓM LƯỢC Số 1795 “Lương tâm là hạt nhân bí ẩn nhất và là cung thánh của con người, nơi con người ở một mình với Thiên Chúa, và tiếng nói của Ngài vang dội trong thẳm sâu lòng họ” 60 .
Số 1796 Lương tâm là sự phán đoán của lý trí, nhờ đó, nhân vị nhận thức được phẩm chất luân lý của một hành vi cụ thể.
Số 1797 Đối với kẻ làm điều xấu, phán đoán của lương tâm còn là bảo chứng cho sự hối cải và niềm hy vọng.
Số 1798 Một lương tâm được huấn luyện tốt thì ngay chính và chân thật. Nó sẽ đưa ra những phán đoán theo lý trí, phù hợp với điều thiện đích thực mà Đấng Tạo Hoá khôn ngoan muốn. Mỗi người phải đảm nhận các phương tiện để huấn luyện lương tâm mình.
Số 1799 Lương tâm, trước một sự lựa chọn luân lý, có thể đưa ra, hoặc một phán đoán ngay thẳng phù hợp với lý trí và Lề luật thần linh, hoặc trái lại, một phán đoán sai lầm, xa rời lý trí và Lề luật thần linh.
Số 1800 Con người luôn phải tuân theo phán đoán chắc chắn của lương tâm mình.
Số 1801 Lương tâm có thể ở trong tình trạng thiếu hiểu biết hoặc đưa ra những phán đoán sai lầm. Sự thiếu hiểu biết này và những sai lầm đó không phải luôn tránh được sự quy tội.
Số 1802 Lời Chúa là ánh sáng soi đường cho chúng ta. Phải thấm nhuần Lời Chúa vào đức tin và kinh nguyện, và đem ra thực hành. Như vậy, lương tâm được huấn luyện.
Mục 7: Các nhân đức Số 1803 “Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý” (Pl 4,8). Nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên trì để làm điều thiện. Nó khiến nhân vị không những thực hiện những hành vi tốt, mà còn cống hiến những điều tốt nhất của bản thân mình. Người nhân đức hướng về điều thiện với tất cả sức mạnh giác quan và tinh thần của mình; họ theo đuổi và lựa chọn điều thiện bằng những hành động cụ thể của mình: “Mục đích của một đời sống nhân đức là trở nên giống Thiên Chúa” 61 .
I. CÁC NHÂN ĐỨC NHÂN BẢN Số 1804 Các nhân đức nhân bản là những thái độ vững chắc, những xu hướng kiên trì, những trọn hảo thường xuyên của lý trí và ý chí, nhằm điều khiển các hành vi của chúng ta, điều tiết các đam mê của chúng ta, và hướng dẫn nếp sống chúng ta cho phù hợp với lý trí và đức tin. Các nhân đức này đem lại cho con người sự thoải mái, sự tự chủ và niềm vui, để sống một cuộc đời tốt lành về mặt luân lý. Người nhân đức là người thực thi điều thiện cách tự nguyện. Các nhân đức luân lý được thủ đắc theo cách thức nhân loại. Chúng là hoa trái và mầm mống của những hành vi tốt về mặt luân lý; chúng chuẩn bị mọi năng lực của con người cho việc hiệp thông với tình yêu của Thiên Chúa.
Số 1805 Có bốn nhân đức giữ nhiệm vụ “cột trụ”. Vì vậy, chúng được gọi là các nhân đức “trụ”; mọi nhân đức khác đều quy tụ quanh bốn nhân đức này. Đó là khôn ngoan, công bằng, can đảm và tiết độ. “Con người mến chuộng đức công bằng ư? Thì chính Đức Khôn Ngoan sản sinh các nhân đức: Quả vậy, Đức Khôn Ngoan dạy cho biết sống tiết độ, cẩn trọng, công bằng và dũng mãnh” (Kn 8,7). Các nhân đức này còn được ca ngợi trong nhiều đoạn văn của Thánh Kinh bằng những danh xưng khác.
Số 1806 Khôn ngoan là nhân đức giúp lý trí sẵn sàng trong mọi hoàn cảnh phân định được điều thiện đích thực và lựa chọn những phương tiện thích hợp để đạt tới điều thiện đó. Người “khôn ngoan thì đắn đo từng bước” (Cn 14,15). "Anh em hãy sống chừng mực và tiết độ để có thể cầu nguyện được” (1 Pr 4,7). Sau ông Aristote, thánh Tôma đã viết: “Khôn ngoan là quy tắc đúng đắn để hành động” 62 . Không được lẫn lộn đức khôn ngoan với tính nhút nhát hay sợ sệt, tráo trở hay lừa đảo. Đức khôn ngoan được gọi là người hướng dẫn các nhân đức (auriga virtutum): thật vậy, nó hướng dẫn các nhân đức khác bằng cách chỉ ra quy tắc và mức độ của chúng. Đức khôn ngoan trực tiếp hướng dẫn sự phán đoán của lương tâm. Người khôn ngoan quyết định và sắp đặt cách hành động của mình theo sự phán đoán này. Nhờ nhân đức này, chúng ta áp dụng các nguyên tắc luân lý vào những trường hợp cụ thể mà không bị sai lầm, và chúng ta vượt qua được những hồ nghi về điều tốt phải làm và điều xấu phải tránh.
Số 1807 Công bằng là nhân đức luân lý cốt tại một ý chí liên lỉ và vững chắc, quyết tâm trả lại những gì mình mắc nợ với Thiên Chúa và với người lân cận. Công bằng đối với Thiên Chúa được gọi là “nhân đức thờ phượng”. Đối với người ta, công bằng là tôn trọng quyền lợi của mỗi người và thiết lập sự hài hoà trong các tương quan nhân loại, sự hài hòa này đưa tới việc không thiên vị đối với các nhân vị và đối với công ích. Người công bằng, thường được nhắc đến trong Thánh Kinh, có nét đặc biệt là sự ngay thẳng thường xuyên trong các ý nghĩ của mình và ngay thẳng trong cách hành động đối với người lân cận. “Ngươi không được thiên vị người yếu thế, cũng không được nể mặt người quyền quý, nhưng hãy xét xử công minh cho người đồng bào” (Lv 19,15). “Người làm chủ hãy đối xử công bằng và đồng đều với các nô lệ, vì biết rằng cả anh em nữa cũng có một Chủ ở trên trời (Cl 4,1).
Số 1808 Can đảm là nhân đức luân lý giúp chúng ta kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện giữa những khó khăn trong đời. Nó củng cố sự quyết tâm chống lại các cám dỗ và vượt qua các chướng ngại trong đời sống luân lý. Đức can đảm giúp chúng ta có khả năng chiến thắng sự sợ hãi, thậm chí cả sự chết, đương đầu với sự thử thách và các cuộc bách hại. Nó giúp chúng ta đi đến chỗ từ bỏ và hy sinh mạng sống mình để bảo vệ lẽ phải. “Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi” (Tv 118,14). "Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian (Ga 16,33).
Số 1809 Tiết độ là nhân đức luân lý giúp chúng ta điều tiết sức lôi cuốn của những thú vui và giữ sự chừng mực trong việc sử dụng các của cải trần thế. Nó giúp ý chí làm chủ các bản năng và kiềm chế các ham muốn trong những giới hạn của sự lương thiện. Người tiết độ quy hướng các thèm muốn giác quan của mình về điều thiện, giữ được sự cẩn trọng lành mạnh, và không chiều theo sức mạnh của mình mà bước theo các dục vọng của trái tim mình. Đức tiết độ thường được ca tụng trong Cựu Ước: “Con đừng buông theo các tham vọng của con, nhưng hãy kiềm chế các dục vọng” (Hc 18,30). Trong Tân Ước, nhân đức này được gọi là “sự chừng mực” hay “sự điều độ”. Chúng ta phải sống “chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này" (Tt 2,12). “Sống tốt lành không là gì khác hơn là yêu mến Thiên Chúa hết trái tim, hết linh hồn và hết tâm trí mình, ... tình yêu này phải được gìn giữ trọn vẹn và không hư hoại, đó là phần của đức tiết độ, không bị suy yếu bởi một rối loạn nào, đó là phần của đức can đảm, không phục vụ một ai khác, đó là phần của đức công bằng, tỉnh thức khi phân định các sự việc kẻo dần dần sự lừa đảo hoặc phản bội lẻn vào, đó là phần của đức khôn ngoan” 64 .
Số 1810 Các nhân đức nhân bản có được là nhờ sự giáo dục, nhờ các hành vi chủ ý và nhờ luôn cố gắng kiên trì, các nhân đức này được thanh luyện và nâng cao nhờ ân sủng thần linh. Nhờ sự trợ giúp của Thiên Chúa, các nhân đức này tôi luyện tính tình và đem lại sự thoải mái trong việc thực thi điều thiện. Người nhân đức hạnh phúc khi thực thi các nhân đức đó.
Số 1811 Con người bị tổn thương bởi tội lỗi, không dễ mà giữ được sự quân bình luân lý. Ơn cứu độ của Đức Kitô đem lại cho chúng ta ân sủng cần thiết để kiên trì trong việc tìm kiếm các nhân đức. Mỗi người phải luôn cầu xin ơn soi sáng và ơn sức mạnh, luôn chạy đến với các bí tích, luôn cộng tác với Chúa Thánh Thần, nghe theo lời kêu gọi của Ngài để yêu mến điều tốt và giữ mình khỏi điều xấu.
II. CÁC NHÂN ĐỨC ĐỐI THẦN Số 1812 Các nhân đức nhân bản được bén rễ trong các nhân đức đối thần, là những nhân đức thích ứng các tài năng của con người để dự phần vào bản tính thần linh 65 . Quả vậy, các nhân đức đối thần trực tiếp quy chiếu về Thiên Chúa. Chúng giúp các Kitô hữu sống trong tương quan với Ba Ngôi Chí Thánh. Các nhân đức đối thần có Thiên Chúa Nhất Thể Tam Vị là nguồn gốc, động lực và đối tượng.
Số 1813 Các nhân đức đối thần tạo nền móng, làm sinh động, và là nét đặc thù của các hành vi luân lý của Kitô hữu. Chúng định hình và mang lại sự sống cho tất cả các nhân đức luân lý. Các nhân đức này được Thiên Chúa phú bẩm trong linh hồn của các tín hữu, giúp họ có khả năng hành động như con cái của Ngài và đáng hưởng sự sống vĩnh cửu. Các nhân đức đối thần là bảo chứng cho sự hiện diện và hành động của Chúa Thánh Thần trong các năng lực của con người. Có ba nhân đức đối thần là: đức tin, đức cậy và đức mến 66 .
Đức tin Số 1814 Đức tin là nhân đức đối thần, nhờ đó chúng ta tin vào Thiên Chúa và tất cả những gì Ngài đã nói và đã mạc khải cho chúng ta, và những gì Hội Thánh dạy chúng ta tin, bởi vì Thiên Chúa chính là Chân lý. Nhờ đức tin, “con người tự nguyện phó thác toàn thân cho Thiên Chúa” 67 . Vì vậy ai tin, người đó cố gắng nhận biết và thi hành ý muốn của Thiên Chúa. “Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống (Rm 1,17). Đức tin sống động “hành động nhờ đức mến” (Gl 5,6).
Số 1815 Hồng ân đức tin tồn tại trong người không phạm tội nghịch với đức tin 68 . Nhưng “đức tin không có hành động là đức tin chết" (Gc 2,26). Nếu thiếu đức cậy và đức mến, đức tin sẽ không kết hợp đầy đủ tín hữu với Đức Kitô và không làm cho họ trở nên chỉ thể sống động của Thân Thể Người.
Số 1816 Người môn đệ Đức Kitô không những phải gìn giữ đức tin và sống bởi đức tin, mà còn phải tuyên xưng, can đảm làm chứng và truyền bá đức tin: “Mọi tín hữu ... phải sẵn sàng tuyên xưng Đức Kitô trước mặt người ta, và bước theo Người trên đường thập giá, giữa những cuộc bách hại mà Hội Thánh luôn luôn gặp phải 69 . Việc phục vụ và làm chứng cho đức tin là những điều phải có để được cứu độ. “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32-33).
Đức cậy Số 1817 Đức cậy là nhân đức đối thần, nhờ đó chúng ta khao khát Nước Trời và đời sống vĩnh cửu là vinh phúc của chúng ta, khi đặt lòng tin tưởng của chúng ta vào các lời hứa của Đức Kitô và cậy dựa vào sự trợ giúp của ân sủng của Chúa Thánh Thần, chứ không vào sức mạnh của chúng ta. “Chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, vì Đấng đã hứa là Đấng trung tín (Dt 10,23). Thiên Chúa “đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta. Như vậy, một khi nên công chính nhờ ân sủng của Đức Kitô, chúng ta được thừa hưởng sự sống đời đời như chúng ta vẫn hy vọng (Tt 3,6-7).
Số 1818 Đức cậy đáp ứng khát vọng hưởng vinh phúc mà Thiên Chúa đã đặt trong trái tim mỗi người; đảm nhận những sự mong đợi đang gợi hứng cho các hoạt động của con người; thanh luyện những mong đợi đó để quy hướng chúng về Nước trời; bảo vệ khỏi sự nản chí của tâm hồn; nâng đỡ khi bị bỏ rơi; mở rộng trái tim bằng sự mong đợi vinh phúc vĩnh cửu. Sự thúc đẩy của đức cậy gìn giữ chúng ta khỏi tính ích kỷ và đưa chúng ta đến với vinh phúc của đức mến.
Số 1819 Đức cậy Kitô giáo đảm nhận và kiện toàn lòng trông cậy của dân Chúa chọn; nguồn gốc và mẫu gương của lòng trông cậy đó là lòng trông cậy của tổ phụ Abraham, người đã mãn nguyện với các lời hứa của Thiên Chúa nơi Isaac, và đã được thanh luyện nhờ sự thử thách là cuộc hy tế 70 . “Ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc” (Rm 4,18).
Số 1820 Từ lúc khởi đầu việc giảng dạy của Chúa Giêsu, đức cậy Kitô giáo được khai triển trong lời loan báo các mối phúc. Các mối phúc nâng niềm hy vọng của chúng ta hướng lên trời, như lên miền Đất hứa mới; vạch đường tới đó qua những thử thách đang chờ đợi các môn đệ của Chúa Giêsu. Nhưng nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô và của cuộc khổ nạn của Người, Thiên Chúa gìn giữ chúng ta trong niềm hy vọng “không phải thất vọng (Rm 5,5). Chúng ta có niềm hy vọng “như cái neo chắc chắn và bền vững của tâm hồn”, thả sâu vào “nơi Chúa Giêsu đã vào như người tiền phong mở đường cho chúng ta (Dt 6,19-20). Đức cậy cũng là vũ khí bảo vệ chúng ta trong cuộc chiến đấu để được cứu độ: “Hãy mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ” (1 Tx 5,8). Đức cậy mang lại cho chúng ta niềm vui ngay cả trong thử thách: “Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân (Rm 12,12). Đức cậy được diễn tả và nuôi dưỡng trong kinh nguyện, nhất là trong Lời Kinh của Chúa, là bản toát yếu của tất cả những gì mà đức cậy khiến chúng ta ước ao.
Số 1821 Vì vậy, chúng ta có thể trông cậy được hưởng vinh quang thiên quốc đã được Thiên Chúa hứa ban cho những ai yêu mến Ngài và thi hành ý muốn của Ngài 72 . Trong bất cứ hoàn cảnh nào, mỗi người phải trông cậy, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, sẽ kiên trì đến cùng 73 , và đạt được niềm vui thiên quốc như phần thưởng vĩnh cửu Thiên Chúa ban vì các việc tốt lành đã được thực hiện nhờ ân sủng Đức Kitô. Với đức cậy, Hội Thánh cầu nguyện cho “mọi người được cứu độ (1 Tm 2,4). Hội Thánh mong được kết hợp với Đức Kitô, Phu Quân của mình, trong vinh quang thiên quốc: “Trông cậy đi, hồn tôi hỡi, hãy trông cậy! Ngươi không biết ngày nào và giờ nào. Hãy chuyên cần tỉnh thức, vì mọi sự qua đi nhanh chóng, mặc dầu vì quá nóng lòng nên ngươi hoài nghi điều chắc chắn và cảm thấy khoảng thời gian vắn vỏi lại quá dài. Hãy nhớ rằng, ngươi càng chiến đấu, càng chứng tỏ tình yêu của ngươi đối với Thiên Chúa, và một ngày kia, ngươi sẽ càng vui sướng hơn với Đấng lòng ngươi yêu mến, trong niềm hạnh phúc và say mê bất tận” 74 .
Đức mến Số 1822 Đức mến là nhân đức đối thần, nhờ đó chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự vì chính Ngài, và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người lân cận như chính mình.
Số 1823 Chúa Giêsu lấy đức mến làm điều răn mới 75 . Khi yêu thương những kẻ thuộc về Người “đến cùng (Ga 13,1), Người biểu lộ tình yêu của Chúa Cha mà Người đã đón nhận. Khi yêu mến nhau, các môn đệ bắt chước tình yêu của Chúa Giêsu mà họ cũng đã đón nhận. Vì vậy, Chúa Giêsu nói: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9). Và Người còn nói: “Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 15,12).
Số 1824 Là hoa trái của Thần Khí và là sự viên mãn của Lề luật 76 , đức mến giữ các điều răn của Thiên Chúa và của Đức Kitô của Ngài: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9-10).
Số 1825 Đức Kitô đã chịu chết vì yêu mến chúng ta, khi chúng ta còn là “thù nghịch (Rm 5,10). Chúa đòi chúng ta rằng, cũng như Người, chúng ta phải yêu mến cả kẻ thù của chúng ta 77 , rằng chúng ta phải trở thành người lân cận cho những kẻ ở xa nhất 78 , rằng chúng ta phải yêu thương trẻ em 79 và người nghèo như chính Người 80 . Thánh Tông Đồ Phaolô đã mô tả một cách tuyệt vời về đức mến: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7).
Số 1826 Thánh Tông Đồ còn nói: không có đức mến, “tôi chẳng là gì”. Và bất cứ điều gì là đặc ân, công việc phục vụ, thậm chí nhân đức... nếu tôi không có đức mến, thì cũng “chẳng ích gì cho tôi” 81 . Đức mến cao trọng hơn mọi nhân đức. Đức mến đứng đầu các nhân đức đối thần: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến (1 Cr 13,13).
Số 1827 Việc thực thi tất cả các nhân đức được nên sinh động và được gợi hứng bởi đức mến. Nhân đức này là “mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,14); là mô thể của các nhân đức; liên kết và phối hợp các nhân đức; là nguồn mạch và cùng đích của việc thực hành các nhân đức Kitô giáo. Đức mến củng cố và thanh luyện khả năng yêu thương của con người. Đức mến nâng khả năng này lên mức trọn hảo siêu nhiên của tình yêu của Thiên Chúa.
Số 1828 Việc thực hành đời sống luân lý, được sinh động nhờ đức mến, đem lại cho Kitô hữu sự tự do thiêng liêng của con cái Thiên Chúa. Người đó đứng trước Thiên Chúa, không còn như một kẻ nô lệ, trong sự sợ hãi tôi đòi, hay như người làm công ăn lương, nhưng như là người con đáp lại tình yêu của “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước (1 Ga 4,19): “Nếu chúng ta xa lánh điều xấu vì sợ hình phạt, chúng ta sẽ sống trong tâm trạng của người nô lệ; nếu chạy theo sự cám dỗ của phần thưởng, ... chúng ta sẽ giống như người làm thuê; nhưng nếu vì chính sự đáng kính và vì tình yêu của Đấng ban hành lề luật..., chúng ta mới thật sự sống trong tâm tình của con cái" 82
Số 1829 Niềm vui, sự bình an và lòng thương xót là như hoa trái của đức mến. Đức mến đòi hỏi phải làm điều tốt và sửa lỗi cho nhau trong tình huynh đệ; đức mến thì nhân hậu; nó khơi dậy sự tương thân tương ái, không tìm tư lợi, và quảng đại; đức mến là tình bằng hữu và sự hiệp thông: “Yêu thương là sự hoàn tất của mọi công việc của chúng ta. Đó là mục đích: chúng ta chạy vì đó, chúng ta chạy đến đó; và khi tới đó, chúng ta sẽ yên nghỉ 83 .
III. CÁC HỒNG ÂN VÀ HOA TRÁI CỦA CHÚA THÁNH THẦN Số 1830 Đời sống luân lý của các Kitô hữu được nâng đỡ bởi các hồng ân của Chúa Thánh Thần. Đó là những xu hướng thường xuyên giúp cho con người dễ dàng tuân theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thân.
Số 1831 Bảy hồng ân của Chúa Thánh Thần là: ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn can đảm, ơn hiểu biết, ơn đạo đức và ơn kính sợ Thiên Chúa. Các ơn này đạt tới sự sung mãn của chúng nơi Đức Kitô, Con Vua Đavid 84 . Các ơn này hoàn thành các nhân đức của những người lãnh nhận chúng, và đưa các nhân đức đó tới mức trọn hảo. Các ơn này giúp các tín hữu dễ dàng vâng phục cách mau mắn những linh hứng của Thiên Chúa. “Xin Thần Khí tốt lành của Chúa, dẫn con đi trên miền đất phẳng phiu” (Tv 143,10). “Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa.... Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô” (Rm 8,14.17).
Số 1832 Các hoa trái của Thần Khí là những điều trọn hảo mà Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta, như hoa quả đầu mùa của vinh quang vĩnh cửu. Truyền thống Hội Thánh kể ra mười hai hoa trái: “Bác ái, hoan lạc, bình an, kiên nhẫn, quảng đại, nhân từ, từ tâm, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ, khiết tịnh" (Gl 5,22-23 vulg.).
TÓM LƯỢC Số 1833 Nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên trì để làm điều thiện.
Số 1834 Các nhân đức nhân bản là những xu hướng thường xuyên và kiên trì của lý trí và ý chí nhằm điều khiển các hành vi của chúng ta, điều tiết các đam mê và hướng dẫn nếp sống chúng ta cho phù hợp với lý trí và đức tin. Các nhân đức đó có thể được quy tụ quanh bốn nhân đức trụ: khôn ngoan, công bằng, can đảm và tiết độ.
Số 1835 Đức khôn ngoan giúp lý trí sẵn sàng trong mọi hoàn cảnh phân định điều thiện đích thực và lựa chọn những phương tiện thích hợp để đạt tới điều thiện đó.
Số 1836 Đức công bằng cốt tại một ý chí liên lỉ và vững chắc, quyết tâm trả lại những gì mình mắc nợ với Thiên Chúa và với người lân cận.
Số 1837 Đức can đảm giúp chúng ta kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện giữa những khó khăn trong đời.
Số 1838 Đức tiết độ giúp chúng ta điều tiết sức lôi cuốn của những thú vui và giữ sự chừng mực trong việc sử dụng các của cải trần thế.
Số 1839 Các nhân đức luân lý tăng trưởng nhờ giáo dục, nhờ các hành vi chủ ý và nhờ luôn cố gắng kiên trì. Ân sủng của Thiên Chúa thanh luyện và nâng cao các nhân đức đó.
Số 1840 Các nhân đức đối thần giúp các Kitô hữu sống trong tương quan với Ba Ngôi Chí Thánh. Các nhân đức đối thần có Thiên Chúa là nguồn gốc, động lực và đối tượng; Ngài là Thiên Chúa được nhận biết nhờ đức tin, được trông cậy và được yêu mến vì chính Ngài.
Số 1841 Có ba nhân đức đối thần là: đức tin, đức cậy và đức mến 85 . Ba nhân đức này định hình và mang lại sự sống cho tất cả các nhân đức luân lý.
Số 1842 Nhờ đức tin, chúng ta tin vào Thiên Chúa và chúng ta tin tất cả những gì Ngài đã mạc khải cho chúng ta, và những gì Hội Thánh dạy chúng ta tin.
Số 1843 Nhờ đức cậy, chúng ta khao khát và chờ mong với lòng tin tưởng vững chắc, Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu và các ân sủng để xứng đáng hưởng sự sống đó.
Số 1844 Nhờ đức mến, chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người lân cận như chính mình. Đức mến là “mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,14) và là mô thể của mọi nhân đức.
Số 1845 Bảy hồng ân của Chúa Thánh Thần được ban cho các Kitô hữu là ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn can đảm, ơn hiểu biết, ơn đạo đức và ơn kính sợ Thiên Chúa.
Mục 8: Tội lỗi I. LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ TỘI LỖI Số 1846 Tin Mừng là sự mạc khải, trong Chúa Giêsu Kitô, lòng thương xót của Thiên Chúa đối với các tội nhân. Thiên thần loan báo điều này cho ông Giuse: "Ông phải đặt tên con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Cũng chính điều đó được nói đến trong Thánh Thể, bí tích của Ơn cứu chuộc: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).
Số 1847 Thiên Chúa, “Đấng đã tạo dựng bạn không cần có bạn, không công chính hoá bạn nếu không có bạn” 87 . Việc đón nhận lòng thương xót của Ngài đòi hỏi chúng ta phải thú nhận tội lỗi của chúng ta: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính, sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính” (1 Ga 1,8-9).
Số 1848 Cũng như Thánh Phaolô quả quyết: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội (Rm 5,20). Nhưng để thực hiện công trình của mình, ân sủng phải vạch trần tội lỗi nhằm hối cải trái tim chúng ta và làm cho chúng ta “nên công chính để được sống đời đời, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 5,21). Cũng như thầy thuốc xem xét vết thương trước khi chữa lành nó, Thiên Chúa, nhờ Ngôi Lời của Ngài và Thần Khí của Ngài, chiếu ánh sáng sống động vào tội lỗi: “Sự hối cải đòi buộc phải xác tín về tội lỗi; nó bao hàm một phán đoán từ bên trong của lương tâm, và điều này là bằng chứng về sự hành động của Thần chân lý trong hữu thể thẳm sâu của con người, và đồng thời cũng là khởi điểm của việc ban tặng mới của ân sủng và tình yêu: “Hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần”. Như vậy, trong việc xác tín về tội lỗi, chúng ta nhận ra một hồng ân kép: hồng ân về chân lý của lương tâm và hồng ân về sự chắc chắn của ơn cứu chuộc. Thần chân lý là Đấng an ủi" 88 .
II. ĐỊNH NGHĨA TỘI LỖI Số 1849 Tội là một lỗi phạm đối nghịch với lý trí, chân lý, lương tâm ngay thẳng; tội là sự thiếu vắng tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận, vì sự quyến luyến lệch lạc với một số điều tốt đẹp nào đó. Tội làm tổn thương bản tính con người và vi phạm đến tình liên đới nhân loại. Tội được định nghĩa là “một hành vi, lời nói, hoặc ước muốn trái nghịch với Lề luật vĩnh cửu” 89 .
Số 1850 Tội là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa: “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài" (Tv 51,6). Tội chống lại tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta và đưa trái tim chúng ta lìa xa khỏi tình yêu đó. Cũng như tội đầu tiên, tội là một sự bất tuân, một sự nổi loạn chống Thiên Chúa vì ao ước muốn “sẽ nên như những vị thần biết điều thiện, điều ác” (St 3,5) để nhận biết và quyết định điều tốt và điều xấu. Như vậy, tội là “yêu mình đến mức khinh chê Thiên Chúa” 90 . Vì sự tự tôn kiêu căng này, nên tội đối nghịch hẳn với sự tuân phục của Chúa Giêsu, sự tuân phục đó đã hoàn thành ơn cứu độ 91 .
Số 1851 Chính trong cuộc khổ nạn, trong đó lòng thương xót của Đức Kitô sẽ chiến thắng tội lỗi, mà tội lỗi biểu lộ cách rõ nhất tính hung bạo và sự đa dạng của nó: sự cứng lòng tin, sự căm thù đến mức giết người, sự chối bỏ và nhạo báng của các thủ lãnh và của dân chúng, sự hèn nhát của quan Philatô, sự tàn bạo của binh lính, sự phản bội của ông Giuđa quá cay đắng cho Chúa Giêsu, việc chối bỏ của ông Phêrô và sự bỏ rơi của các môn đệ. Tuy nhiên, chính vào giờ của bóng tối và của Thủ lãnh thế gian này 92 , cuộc hy tế của Đức Kitô đã âm thầm trở nên nguồn mạch, từ đó tuôn tràn cách không bao giờ cạn ơn tha thứ tội lỗi chúng ta.
III. CÁC TỘI LỖI KHÁC NHAU Số 1852 Tội lỗi rất đa dạng. Thánh Kinh đưa ra nhiều danh sách các tội lỗi. Thư gửi tín hữu Galata đối chiếu các công việc của xác thịt với hoa trái của Thần Khí: “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo: những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa (Gl 5,19-21) 93 .
Số 1853 Tội lỗi có thể được phân biệt theo đối tượng của chúng, cũng như đối với mọi hành vi nhân linh, hoặc theo các nhân đức mà chúng đối nghịch do thái quá hay do bất cập, hoặc theo các điều răn mà chúng vi phạm. Tội lỗi cũng có thể được phân loại theo tương quan của chúng với Thiên Chúa, với người lân cận hoặc với chính bản thân; chúng có thể được phân chia thành các tội về tinh thần và các tội về thể xác, hoặc tội trong tư tưởng, lời nói, việc làm và bỏ sót không làm. Cội rễ của tội là ở trong trái tim con người, trong ý chí tự do của họ, theo lời Chúa dạy: “Tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế (Mt 15,19-20). Đức mến cũng cư ngụ trong trái tim con người, đó là nguyên lý của các công việc tốt lành và thanh sạch, nên tội cũng làm tổn thương đức mến.
IV. MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG CỦA TỘI: TỘI TRỌNG VÀ TỘI NHẸ Số 1854 Phải đánh giá các tội theo mức độ nghiêm trọng của chúng. Sự phân biệt giữa tội trọng và tội nhẹ, như đã thấy trong Thánh Kinh, là khá phổ biến trong Truyền thống Hội Thánh. Kinh nghiệm của con người xác nhận điều này.
Số 1855 Tội trọng phá hủy đức mến trong trái tim con người, do vi phạm nghiêm trọng Lề luật của Thiên Chúa; tội trọng làm cho con người quay lưng lại với Thiên Chúa là mục đích tối hậu của mình và vinh phúc của mình, khi dành ưu tiên cho một điều tốt thấp kém hơn Ngài. Tội nhẹ vẫn còn để đức mến tồn tại, mặc dù có xúc phạm và gây tổn thương cho đức mến.
Số 1856 Tội trọng đánh vào nguyên lý sống còn trong chúng ta, là đức mến, nên cần phải có một khởi đầu mới của lòng thương xót của Thiên Chúa và sự hối cải của trái tim, điều này được thực hiện một cách thông thường trong bí tích Giao Hoà: “Khi ... ý chí chiều theo một điều tự nó nghịch lại với đức mến, là nhân đức nhờ đó con người được quy hướng về mục đích tối hậu, thì do đối tượng của nó, tội này là tội trọng... hoặc nghịch với lòng mến Chúa, như lộng ngôn, bội thề, v.v... hoặc nghịch với lòng yêu người, như sát nhân, ngoại tình, v.v.... Còn khi ý chí của tội nhân chiều theo một điều tự nó là một sự vô trật tự nào đó, nhưng không nghịch với tình yêu đối với Thiên Chúa và người lân cận, như nói năng bừa bãi, cười cợt lố lăng, v.v..., thì đó là những tội nhẹ 95 .
Số 1857 Để một tội là tội trọng, đòi phải có đồng thời ba điều kiện: Tội trọng là tội mà “đối tượng của nó là một chất liệu nghiêm trọng, và ngoài ra, tội đó được chấp nhận với đầy đủ ý thức, và với sự ưng thuận chủ ý" 96 .
Số 1858 Chất liệu nghiêm trọng được xác định trong Mười Điều Răn, theo câu trả lời của Chúa Giêsu với người thanh niên giàu có: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ” (Mc 10,19). Tính nghiêm trọng của tội có thể là nhiều hơn hay ít hơn: tội giết người thì nghiêm trọng hơn tội trộm cắp. Cũng phải xét đến cả phẩm chất của những người bị xúc phạm: tội hành hung người thân thì tự nó nặng hơn tội hành hung người lạ.
Số 1859 Tội trọng đòi phải có sự nhận thức đầy đủ và sự ưng thuận hoàn toàn. Điều này giả thiết phải có sự hiểu biết đặc tính tội lỗi của hành vi, hiểu biết sự đối nghịch của hành vi đối với Lề luật của Thiên Chúa. Tội trọng cũng bao hàm một sự ưng thuận chủ ý, đủ để là một lựa chọn cá vị. Sự làm bộ không biết và sự chai đá của trái tim không giảm thiểu, nhưng gia tăng tính cách cố ý của tội.
Số 1860 Sự không hiểu biết ngoài ý muốn có thể giảm thiểu, và thậm chí xoá bỏ, tính cách quy tội của một lỗi phạm nặng. Nhưng không ai được coi là không biết những nguyên tắc của luật luân lý đã được ghi khắc trong lương tâm mỗi người. Những thúc đẩy của cảm giác, các đam mê, và cả các áp lực bên ngoài, hoặc những rối loạn do bệnh tật, cũng có thể giảm thiểu tính cách cố ý và tự do của lỗi phạm. Tội do ác tâm, do sự chủ ý lựa chọn điều xấu, là nghiêm trọng nhất.
Số 1861 Tội trọng là một khả năng căn bản của sự tự do nhân loại, cũng như chính tình yêu. Tội trọng phá huỷ đức mến, làm mất ơn thánh hóa, nghĩa là mất tình trạng ân sủng. Nếu tội trọng không được chuộc lại bằng việc thống hối và ơn tha thứ của Thiên Chúa, nó sẽ đưa tới việc bị loại ra khỏi Nước Thiên Chúa và cái chết muôn đời trong hỏa ngục, vì sự tự do của chúng ta có khả năng thực hiện những lựa chọn vĩnh viễn, không thể hồi lại được. Tuy nhiên, mặc dầu chúng ta có thể phán đoán một hành vi nào đó tự nó là một lỗi phạm nặng, chúng ta vẫn phải phó thác việc phán xét các nhân vị cho sự công bằng và lòng thương xót của Thiên Chúa.
Số 1862 Người ta phạm tội nhẹ khi không tuân giữ những tiêu chuẩn được quy định bởi luật luân lý trong điều nhẹ, hay cả khi không tuân theo luật luân lý trong điều nặng, nhưng không có sự nhận thức đầy đủ hay không có sự ưng thuận hoàn toàn.
Số 1863 Tội nhẹ làm suy yếu đức mến; nó diễn tả sự quyến luyến vô trật tự đối với của cải trần thế; nó ngăn cản sự tiến triển của linh hồn trong việc thực hành nhân đức và trong việc thực thi điều thiện luân lý; tội nhẹ đáng chịu những hình phạt tạm thời. Tội nhẹ có chủ ý và nhất định không thống hối khiến chúng ta dần dần đi đến chỗ phạm tội trọng. Tuy nhiên, tội nhẹ không phá vỡ giao ước với Thiên Chúa. Với ân sủng của Thiên Chúa, tội nhẹ có thể được con người sửa chữa lại. “Tội nhẹ không làm mất ơn thánh hóa, sự thân nghĩa với Thiên Chúa, đức mến và vinh phúc vĩnh cửu 98 . “Bao lâu còn mang thân xác, con người không thể không có ít là các tội nhẹ. Nhưng các tội mà chúng ta gọi là nhẹ, bạn chớ coi thường: nếu bạn coi là nhẹ khi bạn cân chúng, thì bạn hãy run sợ khi bạn đếm chúng. Nhiều vật nhỏ làm thành một khối lớn, nhiều giọt nước làm đầy một con sông, nhiều hạt lúa làm thành một đống lúa. Vậy thì còn hy vọng gì? Trước hết, hãy đi xưng tội... 99 .
Số 1864 “Mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha” 100 (Mt 12,31). Lòng thương xót của Thiên Chúa không có giới hạn, nhưng ai cố tình từ chối đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa qua việc thống hối, thì người đó cũng khước từ ơn tha thứ tội lỗi cho mình và ơn cứu độ do Chúa Thánh Thần ban tặng 101 . Sự cứng lòng như vậy có thể đưa tới chỗ không thống hối trong giờ sau hết và bị án phạt muôn đời.
V. TỘI LỖI SINH SÔI NẢY NỞ Số 1865 Tội tạo nên xu hướng về tội; và do việc lặp đi lặp lại cùng một hành vi, sẽ sinh ra thói xấu. Từ đó phát xuất những nghiêng chiều lệch lạc làm mờ tối lương tâm và làm hư hỏng sự đánh giá cụ thể về điều tốt và điều xấu. Như vậy tội lỗi có khuynh hướng sinh sôi nảy nở và mạnh thêm lên, nhưng nó không thể phá hủy tận căn cảm thức luân lý.
Số 1866 Các thói xấu có thể được xếp loại dựa theo các nhân đức mà chúng đối nghịch, hay được quy vào các mối tội đầu như kinh nghiệm Kitô giáo đã phân biệt, dựa theo thánh Gioan Casianô 102 và thánh Grêgôriô Cả 103 . Chúng được gọi là các mối tội đầu bởi vì chúng sinh ra những tội khác, những thói xấu khác. Các mối tội đầu là: kiêu ngạo, hà tiện, ganh tị, nóng giận, dâm dục, mê ăn uống, làm biếng.
Số 1867 Truyền thống dạy giáo lý cũng nhắc đến “các tội kêu thấu đến trời”. Kêu thấu đến trời là: máu của Abel 104 ; tội của dân Sôđôma 105 ; tiếng than của dân bị áp bức ở Ai cập 106 ; tiếng rên siết của người ngoại kiều, của các cô nhi và quả phụ 107 ; sự bất công về lương bổng 108 .
Số 1868 Tội là một hành vi cá vị. Ngoài ra, chúng ta có trách nhiệm trong các tội do những người khác phạm, khi chúng ta cộng tác vào các tội đó, bằng cách: tham gia một cách trực tiếp và tự nguyện vào các tội đó; ra lệnh, xúi giục, khen ngợi hoặc tán thành những tội đó; không tố cáo hoặc không ngăn cản các tội đó, khi có bổn phận phải can ngăn; che chở những người làm điều xấu.
Số 1869 Như vậy, tội làm cho người ta trở thành đồng phạm với nhau, và làm cho dục vọng, bạo lực và bất công thống trị nơi họ. Tội tạo nên những hoàn cảnh xã hội và những cơ chế nghịch lại lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Các “cơ cấu tội ác vừa là sự diễn tả vừa là hậu quả của các tội cá vị. Chúng xúi giục các nạn nhân của chúng đến lượt mình cũng làm điều xấu. Hiểu nghĩa loại suy, chúng làm thành “tội xã hội” 109 .
TÓM LƯỢC Số 1870 “Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người (Rm 11,32).
Số 1871 Tội là “một hành vi, lời nói, hoặc ước muốn trái nghịch với Lề luật vĩnh cửu” 110 . Tội là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa. Tội chống lại Thiên Chúa bằng sự bất tuân, đối nghịch với sự tuân phục của Chúa Giêsu.
Số 1872 Tội là một hành vi đối nghịch với lý trí. Nó làm tổn thương bản tính con người và vi phạm đến tình liên đới nhân loại.
Số 1873 Cội rễ của mọi tội lỗi là ở trong trái tim con người. Các loại tội và mức độ nghiêm trọng của chúng được xem xét chủ yếu theo đối tượng của chúng.
Số 1874 Lựa chọn một cách có chủ ý, nghĩa là, biết rõ và tự nguyện, một sự việc đối nghịch với Lề luật thần linh và với mục đích tối hậu của con người một cách nghiêm trọng, đó là phạm tội trọng. Tội trọng phá hủy đức mến trong chúng ta, mà nếu không có đức mến, thì không thể được hưởng vinh phúc vĩnh cửu. Nếu không có sự thống hối, tội trọng kéo theo nó sự chết muôn đời.
Số 1875 Tội nhẹ gây nên một xáo trộn luân lý, có thể sửa chữa lại được nhờ đức mến vẫn còn tồn tại trong chúng ta.
Số 1876 Phạm đi phạm lại các tội, dù là các tội nhẹ, sẽ sinh ra những thói xấu, trong đó đặc biệt có các mối tội đầu.
CHƯƠNG HAI: CỘNG ĐỒNG NHÂN LOẠI Số 1877 Ơn gọi của nhân loại là biểu lộ hình ảnh của Thiên Chúa và được biến đổi thành hình ảnh Con Một của Chúa Cha. Ơn gọi này mang một hình thức cá vị, bởi vì mỗi người đều được kêu gọi tiến vào vinh phúc thần linh; ơn gọi này cũng liên quan đến tổng thể cộng đồng nhân loại.
Mục 1: Cá vị và xã hội I. TÍNH CÁCH CỘNG ĐỒNG CỦA ƠN GỌI NHÂN LINH Số 1878 Mọi người đều được kêu gọi đến một cùng đích chung, là chính Thiên Chúa. Có một sự tương tự nào đó giữa sự hiệp thông các Ngôi Vị Thiên Chúa với tình huynh đệ mà con người phải thiết lập với nhau trong chân lý và tình yêu. Tình yêu đối với người lân cận không thể tách rời khỏi tình yêu đối với Thiên Chúa.
Số 1879 Nhân vị cần đời sống xã hội. Đời sống này không phải là một điều gì từ bên ngoài được thêm vào cho nhân vị, nhưng là một đòi hỏi của bản tính của nhân vị. Con người, nhờ sự trao đổi với những người khác, nhờ sự phục vụ lẫn nhau và nhờ đối thoại với anh em, phát triển mọi tài năng của mình; như vậy, họ đáp lại ơn gọi của mình 1 .
Số 1880 Xã hội là một tổng thể những cá vị được liên kết với nhau một cách hữu cơ theo một nguyên lý hợp nhất nào đó, vượt quá mỗi cá vị. Là một cộng đồng vừa hữu hình, vừa tinh thần, xã hội tồn tại trong thời gian: nó tiếp nhận quá khứ và chuẩn bị tương lai. Nhờ xã hội, mỗi người trở thành “người thừa tự”, lãnh nhận “các nén bạc làm phong phú căn tính của mình và họ phải làm cho chúng tăng thêm hoa trái 2 . Theo lẽ phải, mỗi người phải tận tâm với các cộng đồng mà mình là thành viên, và phải tôn trọng các người cầm quyền có nhiệm vụ mưu cầu công ích.
Số 1881 Mỗi cộng đồng được định nghĩa bằng mục tiêu của mình và do đó, tuân theo những quy tắc đặc thù, nhưng “nguyên lý, chủ thể và mục đích của tất cả các định chế xã hội là, và phải là, nhân vị” 4 .
Số 1882 Một số xã hội, như gia đình và cộng đồng dân sự, phù hợp một cách trực tiếp hơn với bản tính con người. Chúng là cần thiết cho con người. Để khuyến khích nhiều người tham gia vào đời sống xã hội, phải ủng hộ việc thành lập các hiệp hội và các tổ chức, được tự do lựa chọn, “về các vấn đề kinh tế, xã hội, về văn hoá và giải trí, về các sinh hoạt thể thao, về nghề nghiệp của các nghệ thuật khác nhau, về các vấn đề chính trị; trên bình diện quốc gia cũng như trên bình diện quốc tế” 5 . “Việc xã hội hóa này đồng thời diễn tả một xu hướng tự nhiên thúc đẩy con người hợp tác với nhau, để theo đuổi những mục tiêu vượt quá những khả năng cá nhân. Công cuộc này làm tăng thêm các phẩm chất của con người, nhất là óc sáng kiến và tinh thần trách nhiệm. Nó cũng giúp bảo đảm các quyền của con người 6 .
Số 1883 Việc xã hội hóa cũng cho thấy những nguy cơ. Sự can thiệp quá đáng của Nhà Nước có thể đe dọa sự tự do và các sáng kiến cá vị. Giáo huấn của Hội Thánh đề ra một nguyên tắc được gọi nguyên tắc bổ trợ (subsidiarietatis principium): theo đó, “một tổ chức ở cấp cao hơn không được can thiệp vào sinh hoạt nội bộ của một tổ chức ở cấp dưới, và tước mất những nhiệm vụ riêng của cấp dưới, mà tốt hơn phải nâng đỡ tổ chức cấp dưới những khi cần, và trợ giúp để hành động của họ được phối hợp với các thành phần liên hệ khác, nhằm phục vụ công ích” 7 .
Số 1884 Thiên Chúa không muốn giữ cho riêng mình việc thực thi mọi quyền hành. Ngài trao lại cho mỗi thụ tạo những nhiệm vụ mà nó có khả năng thực thi, theo những khả năng của bản tính riêng của mình. Cách cai quản này phải được bắt chước trong đời sống xã hội. Cách Thiên Chúa hành động trong việc cai quản trần gian chứng tỏ Ngài rất quan tâm đến sự tự do nhân loại, điều này phải gợi hứng khôn ngoan cho những người cai quản các cộng đồng nhân loại. Họ phải xử sự như những thừa tác viên của sự quan phòng của Thiên Chúa.
Số 1885 Nguyên tắc bổ trợ đối nghịch với mọi hình thức duy tập thể. Nó vạch ra những giới hạn cho việc can thiệp của Nhà Nước. Nó tìm cách hòa hợp các tương quan giữa các cá nhân với các xã hội. Nó hướng tới việc thiết lập một trật tự quốc tế đích thực.
II. SỰ HỐI CẢI VÀ XÃ HỘI Số 1886 Xã hội là cần thiết để ơn gọi nhân linh được thực hiện. Để đạt tới mục tiêu này, phải tôn trọng bậc thang đúng đắn của các giá trị, là “những gì thuộc vật chất và tự nhiên được đặt ở dưới những gì thuộc nội tâm và tinh thần”. “Vì vậy, xã hội của con người ... trước hết phải được coi như một thực tại đặc biệt liên quan tới tâm hồn; nhờ xã hội, người ta thông chuyển cho nhau các kiến thức, trong ánh sáng của chân lý; người ta có thể khẳng định các quyền lợi và chu toàn các bổn phận; người ta khích lệ nhau tìm kiếm những điều thiện hảo cho tâm hồn; người ta chia sẻ cho nhau sự thưởng thức mọi vui thú lành mạnh; người ta luôn cố gắng trao cho người khác những gì tốt đẹp nhất của mình; người ta chăm chú học hỏi để những phong phú tinh thần của người khác trở thành của mình. Những điều tốt lành này vừa có ảnh hưởng, vừa hướng dẫn, tất cả những gì liên quan đến các học thuyết, các vấn đề kinh tế, các tổ chức xã hội, các trào lưu và thể chế chính trị, pháp chế, và sau cùng, các tổ chức khác, tất cả những gì thiết lập nên và không ngừng làm phát triển cộng đồng nhân loại từ bên ngoài” 9 .
Số 1887 Việc đảo lộn các phương tiện với các mục đích 10 dẫn tới việc coi phương tiện như mục đích tối hậu, hay xem những cá vị chỉ là những phương tiện để đạt mục đích, điều này sinh ra những cơ cấu bất công “làm cho cách sống Kitô giáo, phù hợp với các giới răn của Đấng Làm Luật tối thượng, trở nên khó khăn, hoặc hầu như là không thể” 11 .
Số 1888 Vì vậy, để đạt được những cải tổ xã hội thật sự giúp phục vụ con người, phải chạy đến với các khả năng tinh thần và luân lý của cá vị, và với sự đòi hỏi thường xuyên là sự hối cải nội tâm của cá vị. Việc ưu tiên cho sự hối cải trái tim không hề loại trừ, nhưng trái lại, còn bắt buộc đem lại những lành mạnh hoá thích hợp cho các cơ chế và điều kiện sống, khi các cơ chế và điều kiện sống đó đưa đến tội lỗi, để chúng trở thành phù hợp với các quy tắc của đức công bằng, không chống đối nhưng củng cố điều thiện hảo 12 .
Số 1889 Không có sự trợ giúp của ân sủng, con người không biết “khám phá ra con đường, thường là nhỏ hẹp, giữa một bên là sự hèn nhát muốn nhượng bộ điều xấu và một bên là sức mạnh, tự lừa dối mình rằng mình có thể chiến thắng điều xấu, nhưng thật sự lại làm cho điều xấu nhân rộng thêm” 13 . Con đường đó là con đường của đức mến, nghĩa là của lòng mến Chúa và yêu người. Đức mến là điều răn mang tính xã hội cao nhất. Đức mến tôn trọng người khác và các quyền lợi của họ. Đức mến đòi hỏi sự thực thi đức công bằng và chỉ có đức mến mới làm cho chúng ta có khả năng thực hiện điều đó. Đức mến gợi hứng cho một cuộc đời tự hiến: “Ai tìm cách giữ mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình, thì sẽ bảo tồn được mạng sống (Lc 17,33).
TÓM LƯỢC Số 1890 Có một sự tương tự nào đó giữa sự hiệp thông các Ngôi Vị Thiên Chúa với tình huynh đệ mà con người phải thiết lập với nhau.
Số 1891 Nhân vị, để tự phát triển theo bản tính của mình, cần đời sống xã hội. Một số xã hội, như gia đình và cộng đồng dân sự, phù hợp một cách trực tiếp hơn với bản tính con người.
Số 1892 “Nguyên lý, chủ thể và mục đích của tất cả các định chế xã hội là, và phải là, nhân vị” 14 .
Số 1893 Phải khuyến khích việc tham gia rộng rãi vào các hiệp hội và các tổ chức mà người ta được tự do lựa chọn.
Số 1894 Theo nguyên tắc bổ trợ, Nhà Nước hay một tổ chức lớn hơn, không được thay thế sáng kiến và trách nhiệm của những cá vị và các tổ chức trung gian.
Số 1895 Xã hội phải cổ võ việc thực thi các nhân đức, chứ không được cản trở. Bậc thang đúng đắn về các giá trị phải gợi hứng cho xã hội.
Số 1896 Ở đâu tội lỗi phá huỷ bầu khí xã hội, thì phải chạy đến với sự hối cải của các trái tim và với ân sủng của Thiên Chúa. Đức mến thúc đẩy những cuộc cải tổ chính đáng. Không có giải pháp nào cho vấn đề xã hội ngoài Tin Mừng 15 .
Mục 2: Sự tham gia vào đời sống xã hội I. QUYỀN BÍNH Số 1897 “Xã hội loài người sẽ không thể được tổ chức tốt, cũng không thể thịnh vượng, nếu không có những người, được trao quyền bính hợp pháp, để gìn giữ các cơ chế, và làm mọi điều cần thiết để tích cực bảo trợ cho lợi ích của mọi phần tử” 16 . Được gọi là “quyền bính”, là tư cách nhờ đó những cá vị hay những cơ chế đưa ra những luật lệ và lệnh truyền cho người ta, và mong đợi người ta tuân phục.
Số 1898 Mọi cộng đồng nhân loại đều cần có một quyền bính để quản trị nó 17 . Quyền bính này đặt nền tảng trên bản tính nhân loại. Quyền bính là cần thiết cho sự thống nhất của cộng đồng dân sự. Nhiệm vụ của nó cốt tại việc bảo đảm tối đa cho công ích của xã hội.
Số 1899 Quyền bính, theo trật tự luân lý đòi hỏi, phát xuất từ Thiên Chúa: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại Ngài, sẽ chuốc lấy án phạt” (Rm 13,1-2) 18 .
Số 1900 Bổn phận vâng phục đòi buộc mọi người phải tôn trọng quyền bính cho xứng hợp; và đối với những người đang thực thi nhiệm vụ, phải tôn trọng và tùy công trạng của họ mà tỏ lòng biết ơn và quý mến. Trong tác phẩm của thánh Giáo Hoàng Clêmentê thành Rôma, có một lời kinh cổ xưa nhất cầu cho chính quyền 19 . “Lạy Chúa, xin ban cho họ sức khỏe, bình an, hòa thuận và bền vững, để họ thực thi đúng đắn quyền hành Chúa đã trao cho họ. Lạy Chúa là Chủ tể, là Vua trời vĩnh cửu, chính Chúa ban cho con cái loài người vinh quang, danh dự và quyền bính trên mọi vật trần thế. Lạy Chúa, xin hướng dẫn kế hoạch của họ theo điều gì là tốt, là đẹp trước mặt Chúa, để khi thi hành một cách đạo đức nhiệm vụ mà Chúa đã trao cho, trong an bình và quảng đại, họ nhận được ơn Chúa phù hộ 20 .
Số 1901 Một khi quyền bính thuộc về trật tự do Thiên Chúa ấn định, thì “việc xác định thể chế và việc chỉ định những người điều hành, phải được dành cho ý muốn tự do của các công dân” 21 . Sự khác nhau của các thể chế chính trị có thể được chấp nhận về mặt luân lý, miễn là các thể chế này phục vụ lợi ích chính đáng của cộng đồng đã thừa nhận chúng. Các thể chế có bản chất trái ngược với luật tự nhiên, với trật tự công cộng và với các quyền căn bản của con người, thì không thể đem lại công ích cho những quốc gia đang bị áp đặt phải theo những thể chế đó.
Số 1902 Quyền bính không rút ra tính hợp pháp luân lý tự chính mình. Họ không được xử sự cách chuyên chế, nhưng phải hành động vì công ích với tư cách là “một sức mạnh luân lý đặt nền tảng trên sự tự do và ý thức trách nhiệm” 22 : “Luật pháp nhân loại chỉ có tính cách là luật khi phù hợp với lẽ phải: và theo đó, rõ ràng là nó xuất phát từ Lề luật vĩnh cửu; khi xa lìa lẽ phải, nó được gọi là một luật bất công: nó không còn có tính cách là luật, nhưng đúng hơn, nó mang tính cách bạo lực 23 .
Số 1903 Quyền bính chỉ được thực thi một cách hợp pháp khi nó mưu cầu công ích của tập thể liên hệ, và dùng những phương tiện được phép về mặt luân lý để đạt được công ích đó. Nếu các nhà lãnh đạo đưa ra những luật bất công hay sử dụng những biện pháp trái luân lý, thì những mệnh lệnh đó không thể bắt buộc lương tâm. "Trong trường hợp này, quyền bính không còn hiệu lực, và trở thành một lạm dụng đáng xấu hổ 24 .
Số 1904 “Vì vậy, tốt hơn là, mọi quyền hành phải được quân bình với những quyền hành khác và những thẩm quyền khác, để gìn giữ những giới hạn của nó. Đó là nguyên tắc Nhà Nước pháp chế, trong đó luật pháp là tối thượng, chứ không phải ý muốn độc đoán của một số người 25 .
II. CÔNG ÍCH Số 1905 Theo bản tính xã hội của con người, lợi ích cá nhân tất nhiên được liên kết với công ích. Công ích chỉ có thể được định nghĩa trong tương quan với nhân vị: “Các bạn đừng sống cô lập hay khép kín nơi mình, như thể các bạn đã được công chính hóa rồi, nhưng hãy hợp lại nên một để cùng tìm kiếm điều hữu ích cho mọi người” 26
Số 1906 Phải hiểu công ích là “toàn thể những điều kiện của đời sống xã hội giúp cả những tập thể, cả những phần tử riêng rẽ, đạt tới sự hoàn hảo riêng của mình một cách đầy đủ và dễ dàng hơn” 27 . Công ích liên quan đến đời sống của mọi người. Nó đòi hỏi mỗi người phải khôn ngoan, nhất là những ai đang cầm quyền. Công ích gồm ba yếu tố căn bản:
Số 1907 Trước hết, công ích giả thiết phải tôn trọng cá vị theo đúng nghĩa. Vì công ích, các nhà cầm quyền phải tôn trọng các quyền căn bản và bất khả nhượng của nhân vị. Xã hội phải để cho mỗi thành viên thực hiện ơn gọi của mình. Đặc biệt, công ích nằm trong những điều kiện để thực thi các sự tự do tự nhiên, các sự tự do đó là cần thiết để ơn gọi nhân linh được phát triển: như quyền “hành động theo quy tắc ngay thẳng của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời tư và quyền tự do chính đáng, cả trong vấn đề tôn giáo" 28 .
Số 1908 Thứ hai, công ích đòi hỏi sự thịnh vượng xã hội và sự phát triển của chính tập thể. Sự phát triển là tóm kết của tất cả mọi trách nhiệm xã hội. Vì công ích, quyền bính có nhiệm vụ phân xử giữa các quyền lợi riêng tư khác nhau. Nhưng quyền bính phải giúp mỗi người có được những gì cần thiết để có được một cuộc sống thật sự nhân bản: lương thực, áo quần, sức khỏe, việc làm, giáo dục và văn hóa, được thông tin đầy đủ, quyền xây dựng gia đình 29 , v.v....
Số 1909 Cuối cùng, công ích bao hàm hòa bình, nghĩa là, sự bền vững và sự an ninh của một trật tự chính đáng. Vì vậy, công ích giả thiết rằng quyền bính, bằng những phương tiện trung thực, phải bảo đảm an ninh cho xã hội và cho các thành viên của xã hội. Công ích thiết lập quyền tự vệ chính đáng của cá vị và tập thể.
Số 1910 Nếu mỗi cộng đồng nhân loại đều có một công ích cho phép mình nhận biết mình theo đúng nghĩa, thì người ta thấy sự hoàn thành đầy đủ nhất của một công ích như vậy trong cộng đồng chính trị. Nhà Nước có nhiệm vụ bảo vệ và thăng tiến công ích của xã hội dân sự, của các công dân và các tổ chức trung gian.
Số 1911 Những lệ thuộc giữa con người với nhau trở nên chặt chẽ hơn. Những lệ thuộc đó dần dần được mở rộng khắp thế giới. Sự hợp nhất của gia đình nhân loại, khi quy tụ những thành viên có cùng một phẩm giá theo bản tính, đòi hỏi có một công ích phổ quát. Công ích này đòi sự tổ chức của cộng đồng các quốc gia, “có khả năng đáp ứng những nhu cầu khác nhau của con người trong các lãnh vực của đời sống xã hội như thực phẩm, sức khỏe, giáo dục..., cũng như trong một số hoàn cảnh đặc biệt có thể xảy ra nơi này nơi khác,... như làm nhẹ bớt những khốn khổ của những người tị nạn rải rác khắp thế giới, hoặc giúp đỡ cho những người di cư và gia đình họ” 30
Số 1912 Công ích luôn hướng tới việc thăng tiến con người: “Trật tự của các sự việc phải lệ thuộc trật tự của các cá vị chứ không ngược lại 31 . Trật tự này được đặt nền trong chân lý, được xây dựng trên công bằng, được có sự sống bởi tình yêu.
III. TRÁCH NHIỆM VÀ SỰ THAM GIA Số 1913 Tham gia là sự dấn thân tự nguyện và quảng đại của cá vị vào những giao dịch xã hội. Cần thiết là, tất cả mọi người phải tham gia vào việc mưu cầu công ích, mỗi người theo địa vị và vai trò mình đảm nhận. Bổn phận này gắn liền với phẩm giá của nhân vị.
Số 1914 Trước hết, sự tham gia được thể hiện bằng việc đảm nhận nhiệm vụ trong các phần việc thuộc trách nhiệm cá vị: khi quan tâm chăm sóc gia đình mình, khi làm việc của mình một cách có lương tâm, là con người tham gia vào công ích của những người khác và của xã hội 32 .
Số 1915 Các công dân phải tích cực tham gia càng nhiều càng tốt vào đời sống cộng đồng. Cách tham gia có thể khác nhau từ nước này đến nước khác, hoặc từ nền văn hoá này đến nền văn hoá khác. “Phải khen ngợi đường lối hành động của những quốc gia đang để cho các công dân được tham gia tối đa vào việc nước trong sự tự do đích thực 33 .
Số 1916 Cũng như mọi bổn phận đạo đức, sự tham gia của mọi người trong việc hoạt động cho công ích, bao hàm sự hối cải không ngừng được canh tân của các thành viên của xã hội. Phải kết án nghiêm khắc sự gian lận và những mánh lới khác mà một số người dùng để trốn tránh các đòi buộc của luật pháp và các quy định của bổn phận xã hội, vì chúng không thể đi đôi với những đòi hỏi của đức công bằng. Phải quan tâm phát triển những cơ chế giúp cải thiện các điều kiện của đời sống con người 34 .
Số 1917 Những người đang thực thi nhiệm vụ của quyền bính có bổn phận khẳng định những giá trị đem lại sự tín nhiệm nơi các thành viên của tập thể, và khuyến khích họ tham gia phục vụ đồng loại của mình. Sự tham gia bắt đầu từ việc giáo dục và văn hóa. “Chúng ta có lý do chính đáng để nghĩ rằng: tương lai nhân loại nằm trong tay những người có khả năng trao cho các thế hệ đến sau những lý do để sống và để hy vọng 35 .
TÓM LƯỢC Số 1918 “Không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập (Rm 13,1).
Số 1919 Mọi cộng đồng nhân loại đều cần có quyền bính để cộng đoàn được duy trì và phát triển.
Số 1920 “Cộng đồng chính trị và công quyền đặt nền tảng trên bản tính con người, cho nên cũng nằm trong một trật tự do Thiên Chúa ấn định 36 .
Số 1921 Quyền bính được thực thi một cách hợp pháp khi nó được áp dụng để theo đuổi công ích của xã hội. Để đạt được điều đó, quyền bính phải dùng những phương thế có thể chấp nhận được về mặt luân lý.
Số 1922 Sự khác biệt về các thể chế chính trị là điều hợp pháp, miễn là chúng phục vụ công ích của cộng đồng.
Số 1923 Quyền bính chính trị phải được khai triển trong những giới hạn của trật tự luân lý và phải bảo đảm những điều kiện để thực thi quyền tự do.
Số 1924 Công ích là “toàn thể những điều kiện của đời sống xã hội giúp cả những tập thể, cả những phần tử riêng rẽ, đạt tới sự hoàn hảo riêng của mình một cách đầy đủ và dễ dàng hơn” 37 .
Số 1925 Công ích gồm ba yếu tố căn bản: tôn trọng và phát huy các quyền lợi căn bản của con người; sự thịnh vượng hay sự phát triển các lợi ích tinh thần và vật chất của xã hội; hòa bình và an ninh cho tập thể và cho các thành viên của tập thể.
Số 1926 Phẩm giá của nhân vị bao hàm việc mưu cầu công ích. Mỗi người phải quan tâm cổ võ và nâng đỡ những tổ chức nhằm cải thiện các điều kiện của đời sống con người.
Số 1927 Nhà nước có bổn phận bảo vệ và phát huy công ích của xã hội dân sự. Công ích của toàn thể gia đình nhân loại đòi phải có một tổ chức xã hội nào đó có tầm vóc quốc tế.
Mục 3: Công bằng xã hội Số 1928 Xã hội bảo đảm công bằng xã hội, khi tạo điều kiện để các đoàn thể và mỗi cá nhân có được những gì họ có quyền hưởng theo bản tính và ơn gọi của họ. Công bằng xã hội được liên kết với công ích và với việc thực thi quyền bính.
I. TÔN TRỌNG NHÂN VỊ Số 1929 Không thể có công bằng xã hội, nếu không có sự tôn trọng phẩm giá siêu việt của con người. Nhân vị là mục đích tối hậu của xã hội, vì xã hội được quy hướng về nhân vị: “Việc bảo vệ và thăng tiến phẩm giá của nhân vị được Đấng Tạo Hóa uỷ thác cho chúng ta, và bất cứ ở thời đại nào trong lịch sử, các người nam và người nữ đều mắc nợ về điều đó, vì nhiệm vụ đã lãnh nhận” 38 .
Số 1930 Sự tôn trọng nhân vị bao hàm việc tôn trọng các quyền phát xuất từ phẩm giá của nhân vị, xét như một thụ tạo. Các quyền đó có trước xã hội và được ấn định cho xã hội. Các quyền đó đặt nền tảng cho tính hợp pháp về mặt luân lý của mọi quyền bính: khi khinh miệt hay phủ nhận các quyền đó trong luật thiết định của mình, là xã hội phá huỷ tính hợp pháp về mặt luân lý của chính mình 39 . Không có sự tôn trọng như vậy, quyền bính chỉ có thể dựa trên sức mạnh hay bạo lực, để bắt buộc những người dưới quyền mình phải tuân phục. Hội Thánh có bổn phận nhắc nhở những người thiện chí về những quyền này và phân biệt chúng với những yêu sách thái quá hoặc sai lầm.
Số 1931 Để tôn trọng nhân vị, phải tôn trọng nguyên tắc này: “Mỗi người phải coi người lân cận, không trừ một ai, như cái tôi thứ hai của mình, nên trước hết phải quan tâm đến sự sống của họ và những phương tiện cần thiết giúp họ sống xứng với nhân phẩm” 40 . Không một luật pháp nào tự mình có thể xóa bỏ được các nỗi sợ hãi, những thành kiến, những thái độ kiêu căng và ích kỷ, vẫn ngăn trở việc xây dựng những xã hội thật sự huynh đệ. Những thái độ đó chỉ chấm dứt nhờ đức mến là nhân đức nhận ra mỗi người đều là “người lân cận”, là anh em.
Số 1932 Bổn phận “trở nên người lân cận” của người khác và tích cực phục vụ họ lại càng khẩn thiết hơn, khi họ nghèo khổ hơn về bất cứ phương diện nào. “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).
Số 1933 Bổn phận này được mở rộng tới những người suy nghĩ hay hành động khác với chúng ta. Giáo huấn của Đức Kitô đòi buộc phải đi đến chỗ tha thứ mọi xúc phạm. Giáo huấn đó còn mở rộng giới răn yêu thương, là nét độc đáo của Lề luật mới, đến tất cả các kẻ thù. Sự giải phóng theo tinh thần Tin Mừng không thể đi đôi với sự oán ghét kẻ thù, xét như một cá vị, nhưng phải oán ghét điều xấu mà người, xét như kẻ thù, đã làm.
II. SỰ BÌNH ĐẲNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA CON NGƯỜI Số 1934 Tất cả mọi người, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa duy nhất, được phú ban một linh hồn có lý trí như nhau, nên có cùng một bản tính và cùng một nguồn gốc. Được cứu chuộc nhờ hy lễ của Đức Kitô, mọi người đều được mời gọi tham dự cùng một vinh phúc thần linh: vì vậy mọi người đều được hưởng cùng một phẩm giá.
Số 1935 Sự bình đẳng giữa con người với nhau chủ yếu dựa trên phẩm giá cá vị và các quyền phát xuất từ phẩm giá đó: “Trong những quyền căn bản của cá vị, phải vượt lên trên và loại bỏ mọi cách thức kỳ thị hoặc xã hội hoặc văn hóa, phái tính, chủng tộc, màu da, địa vị xã hội, ngôn ngữ hoặc tôn giáo, vì như vậy là trái với ý định của Thiên Chúa" 42 .
Số 1936 Khi chào đời, con người không có tất cả những gì cần thiết để phát triển đời sống thể xác và tinh thần của mình. Con người cần đến những người khác. Những khác biệt đã xuất hiện về tuổi tác, về những khả năng thể lý, về những khả năng trí tuệ và luân lý, về những trao đổi mà mỗi người đã có thể có được, về sự phân phối của cải 43 . “Những nén bạc” không được phân phối một cách bằng nhau 44 .
Số 1937 Những khác biệt này nằm trong chương trình của Thiên Chúa, Đấng muốn người này đón nhận những gì mình cần từ người khác, và muốn những ai lãnh được “những nén bạc” đặc biệt, phải biết truyền thông chúng cho những người cần đến chúng. Các khác biệt khuyến khích và nhiều khi đòi buộc các cá vị sống quảng đại, nhân hậu và chia sẻ; chúng cũng thúc đẩy các nền văn hóa làm phong phú lẫn nhau: "Tại sao Cha lại ban những nhân đức khác nhau như vậy, mà không ban mọi nhân đức cho một người, nhưng ban nhân đức này cho người này, nhân đức kia cho kẻ khác? ... Cha đặc biệt sẽ ban cho người này đức mến; người khác đức công bằng; kẻ này đức khiêm nhường; kẻ kia đức tin sống động.... Và như vậy Cha đã ban nhiều hồng ân và ân sủng, cả thiêng liêng cả trần thế Cha đã ban mọi sự một cách rất không đồng đều, Cha không ban mọi sự cho một người, để các con nhất thiết có cơ hội thực thi bác ái, người này đối với người kia; ... Cha đã muốn người này cần đến người khác và là thừa tác viên của Cha để phân phát các ân sủng và hồng ân mà họ đã lãnh nhận từ nơi Cha” 45 .
Số 1938 Nhưng cũng có những sự bất bình đẳng bất công mà hàng triệu người nam và người nữ phải gánh chịu. Những bất bình đẳng đó rõ ràng nghịch lại với Tin Mừng: “Phẩm giá bình đẳng của các cá vị đòi hỏi rằng điều kiện của đời sống phải trở nên nhân bản hơn và bình đẳng. Thật vậy, những bất bình đẳng thái quá về kinh tế và xã hội giữa những thành phần hay giữa những dân tộc của một gia đình nhân loại duy nhất là một cớ vấp phạm, và đi ngược với sự công bằng xã hội, công lý, phẩm giá của nhân vị và nền hòa bình xã hội và quốc tế” 46 .
III. TÌNH LIÊN ĐỚI NHÂN LOẠI Số 1939 Nguyên tắc liên đới, còn được gọi là nguyên tắc của “tình thân nghĩa” hay “bác ái xã hội”, là một đòi hỏi trực tiếp của tình huynh đệ nhân bản và Kitô giáo 47 . “Điều sai lầm đầu tiên, mà ngày nay đang phổ biến một cách rộng rãi và nguy hiểm, là người ta quên mất quy luật của tình liên đới nhân loại và của đức mến, quy luật này được thiết đặt và bắt buộc vừa do nguồn gốc chung của chúng ta và do sự bình đẳng của bản tính có lý trí của mọi người, dù thuộc bất cứ dân tộc nào, vừa do hy tế cứu chuộc Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha vĩnh cửu, nơi bàn thờ thập giá, vì nhân loại tội lỗi” 48 .
Số 1940 Tình liên đới trước hết được biểu lộ trong việc phân phối của cải và việc trả lương lao động. Tình liên đới cũng bao hàm sự nỗ lực cho một trật tự xã hội công bằng hơn, trong đó những căng thẳng có thể được giải quyết tốt hơn và chúng có thể gặp được giải pháp liên kết dễ dàng hơn.
Số 1941 Những vấn đề xã hội và kinh tế không thể được giải quyết nếu không có sự trợ giúp của mọi hình thức liên đới: liên đới giữa những người nghèo với nhau, giữa người giàu với người nghèo, giữa những người lao động với nhau, giữa chủ và thợ trong xí nghiệp, liên đới giữa các quốc gia và giữa các dân tộc. Tình liên đới quốc tế là một đòi hỏi của trật tự luân lý. Hòa bình thế giới cũng một phần tùy thuộc tình liên đới này.
Số 1942 Nhân đức liên đới vượt quá phạm vi các của cải vật chất. Khi phân phát các của cải tinh thần của đức tin, Hội Thánh đã giúp phát triển những của cải trần thế nhiều hơn nữa, Hội Thánh đã thường mở ra những con đường mới cho cuộc phát triển này. Như vậy, qua dòng thời gian, Lời Chúa đã được thực hiện: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn tất cả những thứ kia, Ngài sẽ thêm cho" (Mt 6,33): “Hai ngàn năm qua, trong linh hồn Hội Thánh, vẫn có một tâm tình sống động đã và đang thúc đẩy nhiều người sống đời bác ái đến mức anh hùng - các đan sĩ cày sâu cuốc bẫm, những nhà giải phóng nô lệ, những người chữa trị bệnh nhân, các sứ giả mang đức tin, văn minh và khoa học đến với mọi thế hệ và dân tộc, nhằm tạo ra những điều kiện xã hội có khả năng giúp mọi người có được một đời sống xứng đáng với phẩm giá con người và phẩm giá Kitô hữu” 49 .
TÓM LƯỢC Số 1943 Xã hội bảo đảm công bằng xã hội, khi tạo điều kiện để các đoàn thể và mỗi cá nhân có được những gì họ có quyền hưởng.
Số 1944 Tôn trọng nhân vị của những người khác là coi họ như “cái tôi thứ hai”. Sự tôn trọng nhân vị giả thiết việc tôn trọng các quyền căn bản phát xuất từ phẩm giá nội tại của nhân vị.
Số 1945 Sự bình đẳng giữa con người với nhau dựa trên phẩm giá cá vị và các quyền phát xuất từ phẩm giá đó.
Số 1946 Những khác biệt giữa các nhân vị nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa, Đấng muốn chúng ta và người khác cần đến nhau. Những khác biệt ấy phải khơi dậy đức mến.
Số 1947 Phẩm giá bình đẳng của các nhân vị đòi hỏi phải cố gắng giảm thiểu những bất bình đẳng thái quá về kinh tế và xã hội. Phẩm giá đó thúc đẩy việc huỷ bỏ những bất bình đẳng bất công.
Số 1948 Nhân đức liên đới là một nhân đức mang tính Kitô giáo rất cao. Nó thực thi việc chia sẻ các của cải tinh thần hơn là chia sẻ các của cải vật chất.
CHƯƠNG BA: ƠN CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA: LỀ LUẬT VÀ ÂN SỦNG Số 1949 Con người, được kêu gọi hưởng vinh phúc, nhưng bị tổn thương bởi tội lỗi, nên cần ơn cứu độ của Thiên Chúa. Sự trợ giúp thần linh đến với con người trong Đức Kitô, nhờ Lề luật để hướng dẫn họ, và trong ân sủng để nâng đỡ họ: "Anh em hãy biết run sợ mà gắng sức lo sao cho mình được cứu độ. Vì chính Thiên Chúa tác động đến ý chí cũng như hành động của anh em do lòng yêu thương của Ngài (Pl 2,12-13).
Mục 1: Luật luân lý Số 1950 Luật luân lý là công trình của đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Theo nghĩa Thánh Kinh, luật này có thể được định nghĩa như việc dạy dỗ của một người cha, như một khoa sư phạm của Thiên Chúa. Luật luân lý quy định cho con người những con đường, những quy tắc hành động dẫn đưa họ tới vinh phúc Thiên Chúa đã hứa; và ngăn cấm những con đường dẫn đến sự dữ khiến con người xa lìa Thiên Chúa và tình yêu của Ngài. Luật luân lý đồng thời vừa kiên định trong các mệnh lệnh của nó, vừa đáng mến trong các lời hứa của nó.
Số 1951 Luật là một quy tắc hành động được quyền bính có thẩm quyền công bố vì công ích. Luật luân lý giả thiết một trật tự hữu lý được thiết lập giữa các thụ tạo, vì lợi ích của chúng và nhằm vào mục đích của chúng, do quyền năng, sự khôn ngoan và sự tốt lành của Đấng Tạo Hoá. Mọi luật đều gặp được chân lý đầu tiên và tối hậu của mình trong Lề Luật vĩnh cửu. Luật được công bố và thiết lập bởi lý trí, xét như việc tham gia vào sự quan phòng của Thiên Chúa hằng sống, là Đấng Tạo Hoá và Đấng Cứu Chuộc mọi người. “Luật được mệnh danh là chỉ thị của lý trí”. “Trong tất cả các sinh linh, chỉ con người được vinh dự, là chỉ con người xứng đáng đón nhận Lề luật từ Thiên Chúa, và như một sinh vật có lý trí, có khả năng để hiểu biết và nhận định, con người phải dùng chính sự tự do có lý trí mà suy phục Đấng đã bắt mọi sự suy phục mình”.
Số 1952 Có những cách diễn tả khác nhau của Luật luân lý, và thật sự, tất cả đều liên kết với nhau: Lề luật vĩnh cửu, là nguồn mạch của mọi luật trong Thiên Chúa; luật tự nhiên; Luật được mạc khải gồm Luật cũ và Luật mới hoặc Luật Tin Mừng; sau cùng là các dân luật và giáo luật.
Số 1953 Luật luân lý gặp được sự viên mãn và sự thống nhất của mình trong Đức Kitô. Chúa Giêsu Kitô là con đường của sự trọn hảo. Chính Người là mục đích của Lề luật, bởi vì chỉ có Người dạy dỗ và ban sự công chính của Thiên Chúa. “Cứu cánh của Lề luật là Đức Kitô, khiến bất cứ ai tin đều được nên công chính (Rm 10,4).
I. LUẬT LUÂN LÝ TỰ NHIÊN Số 1954 Con người tham dự vào sự khôn ngoan và sự tốt lành của Đấng Tạo Hoá, Đấng đã cho họ quyền làm chủ mọi hành vi của họ và khả năng tự hướng đến chân lý và điều thiện. Luật tự nhiên diễn tả cảm thức luân lý nguyên thủy, nhờ đó con người dùng lý trí mà phân định điều gì là tốt và điều gì là xấu, điều gì là chân lý và điều gì là dối trá: “Luật tự nhiên đã được viết và được ghi khắc trong tâm hồn mỗi người, bởi vì chính lý trí con người ra lệnh hành động một cách ngay thẳng và tránh phạm tội. Nhưng quy định này của lý trí con người không thể có giá trị là luật, nếu nó không phải tiếng nói và thông dịch viên của một lý trí cao hơn, mà tâm trí và sự tự do của chúng ta đều phải suy phục” 4 .
Số 1955 Luật thần linh và tự nhiên vạch cho con người thấy con đường phải theo để thực thi điều tốt và đạt tới mục đích của mình. Luật tự nhiên nêu ra những mệnh lệnh đầu tiên và căn bản điều khiển đời sống luân lý. Luật tự nhiên có nền tảng là tâm tình khao khát và quy phục Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch và thẩm phán của mọi điều thiện hảo, và cũng có nền tảng là cảm thức về tha nhân như người bình đẳng với mình. Luật này được trình bày thành những điều răn chính trong Mười Điều Răn. Luật này được gọi là tự nhiên (naturalis), không phải vì liên quan đến những hữu thể không có lý trí, nhưng bởi vì lý trí công bố luật đó thuộc riêng về bản tính nhân linh (ad naturam humanam proprie pertinet): “Các quy luật này được ghi chép ở đâu nếu không phải là trong quyển sách của thứ ánh sáng được gọi là chân lý? Đó là nơi mọi lề luật chính đáng được viết ra; từ đó được chuyển vào trái tim con người để họ thực thi sự công chính; luật này không phải di cư vào trái tim con người, nhưng như được in vào đó, cũng như một hình ảnh từ một chiếc nhẫn ấn trên sáp mà không rời bỏ chiếc nhẫn” 5 . “Luật tự nhiên không gì khác là ánh sáng trí tuệ do Thiên Chúa đặt trong ta; nhờ đó, chúng ta nhận biết điều phải làm và điều phải tránh. Thiên Chúa đã ban ánh sáng này và luật này cho con người trong công trình tạo dựng 6 .
Số 1956 Hiện diện trong trái tim mỗi người và được thiết lập bởi lý trí, luật tự nhiên có giá trị phổ quát trong các mệnh lệnh của nó, và quyền bính của nó trải rộng đến tất cả mọi người. Luật này diễn tả phẩm giá của nhân vị và đặt nền tảng cho các quyền lợi và nghĩa vụ căn bản của nhân vị: “Thật sự có một luật chân thật là lẽ phải, phù hợp với bản tính, được tuôn đổ trong mọi người, bền vững, vĩnh cửu, nó kêu gọi bổn phận phải thi hành, nó ngăn cản sự gian lận phải xa lánh.... Thay luật này bằng một luật nghịch lại là phạm thánh, không được phép rút bỏ điều gì khỏi luật này, và cũng không thể hoàn toàn huỷ bỏ luật này”.
Số 1957 Việc áp dụng luật tự nhiên rất đa dạng; có thể suy nghĩ để thích ứng với những điều kiện đa dạng của đời sống, tùy theo nơi chốn, thời đại và hoàn cảnh. Tuy nhiên, trong sự khác biệt của các nền văn hóa, luật tự nhiên vẫn là một quy tắc nối kết con người với nhau, ấn định những nguyên tắc chung, trừ những khác biệt không thể tránh khỏi.
Số 1958 Luật tự nhiên là bất biến và trường tồn qua mọi thay đổi của lịch sử. Nó tồn tại qua những trào lưu tư tưởng và tập tục, và nâng đỡ sự phát triển của chúng. Những quy tắc diễn tả luật tự nhiên, về bản chất vẫn luôn có hiệu lực. Mặc dầu những nguyên lý của luật tự nhiên có bị chối bỏ, thì chính nó cũng không thể bị huỷ diệt và không thể bị gạt ra khỏi trái tim con người. Luật tự nhiên luôn trỗi dậy trong đời sống của các cá nhân và các xã hội: “Lạy Chúa, chắc chắn tội trộm cắp bị trừng phạt bởi Lề luật của Chúa, và bởi luật đã được ghi trong trái tim con người, luật mà chính sự gian ác cũng không xóa bỏ được” 7 .
Số 1959 Luật tự nhiên, là công trình tốt nhất của Đấng Tạo Hoá, mang lại những nền tảng vững chắc, trên đó con người có thể xây dựng toà nhà là các quy luật luân lý để hướng dẫn những chọn lựa của họ. Luật tự nhiên cũng đặt nền móng luân lý hết sức cần thiết để xây dựng cộng đồng nhân loại. Và sau cùng, nó cung cấp nền móng cần thiết cho luật dân sự, luật này được quy chiếu về luật tự nhiên, hoặc bằng cách suy nghĩ để rút ra những kết luận từ các nguyên tắc của luật tự nhiên, hoặc bằng những bổ sung mang tính chất thiết định và pháp lý.
Số 1960 Những mệnh lệnh của luật tự nhiên không được mọi người nhận thức một cách rõ ràng và trực tiếp. Trong điều kiện hiện tại, ân sủng và Mạc khải là cần thiết cho con người tội lỗi, để các chân lý tôn giáo và luân lý “có thể được nhận biết bởi mọi người một cách không chút trở ngại, một cách chắc chắn vững vàng, và không pha trộn một sai lầm nào” 8 . Luật tự nhiên mang lại cho Lề luật được mạc khải và cho ân sủng một nền tảng, đã được Thiên Chúa chuẩn bị sẵn và phù hợp với công cuộc của Thần Khí.
II. LUẬT CŨ Số 1961 Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá và Đấng Cứu Độ của chúng ta, đã chọn Israel như dân riêng của Ngài, và đã mạc khải cho họ Lề Luật của Ngài và như vậy chuẩn bị cho cuộc Ngự đến của Đức Kitô. Luật Môisen diễn tả nhiều chân lý mà lý trí có thể đạt tới một cách tự nhiên. Người ta gặp được các chân lý này được công bố và được chứng thực trong Giao ước cứu độ.
Số 1962 Luật cũ là cấp độ đầu tiên của Lề Luật được mạc khải. Các quy định luân lý của luật cũ được tóm lại trong Mười Điều Răn. Các mệnh lệnh của Mười Điều Răn đặt nền tảng cho ơn gọi của con người, vốn được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Các điều răn đó ngăn cấm những gì nghịch lại tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận, và quy định những đòi hỏi căn bản của tình yêu đó. Mười Điều Răn là ánh sáng được ban tặng cho lương tâm của mỗi người, giúp họ nhận ra lời kêu gọi của Thiên Chúa, và những con đường Ngài biểu lộ cho họ, và bảo vệ họ khỏi điều xấu: “Thiên Chúa đã viết trên các bảng Luật, tất cả những gì mà con người không đọc nổi trong trái tim họ” 9 .
Số 1963 Theo truyền thống Kitô giáo, Lề Luật thì thánh thiện 10 , thiêng liêng 11 , và tốt lành 12 , nhưng vẫn chưa trọn hảo. Như một nhà sư phạm, luật đó cho thấy điều phải làm, nhưng tự nó không ban sức mạnh, ân sủng của Thần Khí để người ta chu toàn nó. Vì không xóa được tội lỗi, nên luật cũ vẫn còn là luật của tình trạng nô lệ. Theo thánh Phaolô, luật cũ có nhiệm vụ tố cáo và vạch trần tội lỗi, vì tội lỗi tạo ra thứ “luật của dục vọng" 13 trong trái tim con người. Tuy nhiên, Lề Luật vẫn là chặng đầu tiên trên con đường dẫn đến Nước Trời. Nó chuẩn bị và giúp dân Chúa chọn và mỗi Kitô hữu sẵn sàng để hối cải và tin vào Thiên Chúa Cứu Độ. Với tính cách là lời của Thiên Chúa, Luật cũ đem lại đạo lý tồn tại đến muôn đời.
Số 1964 Luật cũ là một sự chuẩn bị nào đó cho Tin Mừng. “Lề Luật là môn sư phạm và lời tiên báo về các điều sẽ đến” 14 . Luật cũ nói tiên tri và báo trước công trình giải phóng khỏi tội lỗi sẽ được hoàn thành với Đức Kitô, cung cấp cho Tân Ước những hình ảnh, “những tiên trưng , những biểu tượng, để diễn tả đời sống theo Thần Khí. Cuối cùng, luật được kiện toàn bởi đạo lý của các sách khôn ngoan và các Tiên Tri, các vị này quy hướng luật cũ tới Giao ước Mới và Nước Trời. “Dưới chế độ của Giao Ước Cũ, nhiều người đã có được đức mến và ân sủng của Chúa Thánh Thần và mong chờ những lời hứa thiêng liêng và vĩnh cửu. Và nhờ đó, họ đã được liên kết với Luật mới. Ngược lại, trong thời Giao Ước Mới, lại có những con người vẫn sống theo xác thịt, chưa đạt tới sự trọn hảo của Luật mới, vậy những người trong thời Giao Ước Mới này phải được dẫn tới các công việc nhân đức bằng sự sợ hãi các hình phạt, và bằng những lời hứa trần thế nào đó. Dù Luật cũ có dạy các điều răn của đức mến, nhưng Chúa Thánh Thần không được ban xuống nhờ luật đó, mà nhờ Chúa Thánh Thần, 'Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta' (Rm 5,5)” 15 .
III. LUẬT MỚI HAY LUẬT TIN MỪNG Số 1965 Luật mới hay Luật Tin Mừng là sự trọn hảo nơi trần thế của Luật thần linh, tự nhiên và được mạc khải. Đây là công trình của Đức Kitô, được trình bày cách đặc biệt trong Bài giảng trên núi. Đây cũng là công trình của Chúa Thánh Thần, và nhờ Ngài, nó trở thành luật nội tâm của đức mến: “Ta hoàn thành một Giao Ước Mới với nhà Israel và nhà Giuđa.... Ta sẽ ghi vào lòng trí chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng còn chúng sẽ là Dân của Ta” (Dt 8,8.10) 16 .
Số 1966 Luật mới là ân sủng của Chúa Thánh Thần được ban cho các tín hữu nhờ tin vào Đức Kitô. Luật này hoạt động nhờ đức mến, và dùng Bài giảng trên núi của Chúa để dạy chúng ta điều phải làm, và dùng các bí tích để truyền thông ân sủng giúp chúng ta thực hiện điều đó: “Nếu ai sốt sắng và bình tâm suy niệm bài giảng được Chúa chúng ta là Chúa Giêsu Kitô công bố trên núi, như chúng ta đọc trong sách Tin Mừng theo thánh Matthêu, tôi nghĩ rằng người đó sẽ gặp được ở đó, vì là những lời răn dạy tốt nhất, một quy luật trọn hảo của đời sống Kitô hữu. Bài giảng này chứa đựng tất cả những mệnh lệnh mà nhờ đó đời sống Kitô hữu được nặn đúc nên” 17 .
Số 1967 Luật Tin Mừng hoàn thành 18 , tinh luyện, vượt qua và kiện toàn Luật cũ. Trong các mối phúc, Luật mới hoàn thành các lời hứa thần linh khi nâng cao chúng lên và quy hướng chúng về “Nước Trời”. Luật Tin Mừng dành cho những ai sẵn sàng đón nhận niềm hy vọng mới này với lòng tin: những người nghèo, người khiêm tốn, người đau khổ, người có trái tim trong sạch, người bị bách hại vì Đức Kitô, như vậy Luật Tin Mừng phác hoạ những con đường chưa từng thấy của Nước Trời.
Số 1968 Luật Tin Mừng hoàn thành các mệnh lệnh của Lề Luật. Bài giảng của Chúa không hủy bỏ hay làm giảm giá trị các quy định luân lý của Luật cũ, nhưng rút ra những sức mạnh còn ẩn kín của chúng, và làm cho từ nơi chúng phát sinh ra những đòi hỏi mới: Luật Tin Mừng mạc khải toàn bộ chân lý thần linh và nhân linh của Luật cũ. Luật mới không thêm những mệnh lệnh mới từ bên ngoài, nhưng đi đến chỗ biến đổi gốc rễ của các hành vi, là trái tim, nơi con người chọn lựa giữa thanh sạch và ô uế 19 , nơi hình thành đức tin, đức cậy, đức mến, và cùng với chúng, các nhân đức khác. Như vậy, Tin Mừng đưa Lề Luật tới sự viên mãn của nó nhờ bắt chước sự trọn hảo của Cha trên trời 20 , nhờ việc tha thứ cho kẻ thù và cầu nguyện cho những người bách hại, giống như lòng quảng đại của Thiên Chúa 21 .
Số 1969 Luật mới thực thi các hành vi tôn giáo: bố thí, cầu nguyện và chay tịnh, khi quy hướng các việc đó về “Chúa Cha, Đấng thấu suốt những gì kín đáo”, khác với những người muốn “được người ta thấy”. 22 Lời cầu nguyện của Luật mới là kinh “Lạy Cha” 23 .
Số 1970 Luật Tin Mừng bao hàm sự chọn lựa dứt khoát giữa “hai con đường” 24 , và thực hiện các lời dạy của Chúa 25 ; Luật Tin Mừng được tóm lược trong khuôn vàng thước ngọc: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môisen và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12). Toàn bộ Luật Tin Mừng được chứa đựng trong điều răn mới của Chúa Giêsu 26 , là chúng ta hãy yêu thương nhau như Người đã yêu thương chúng ta 27 .
Số 1971 Phải thêm vào bài giảng của Chúa giáo lý luân lý trong giáo huấn của các Tông Đồ, như các đoạn Rm 12-15; 1 Cr 12-13; Cl 3-4; Ep 4-5; v.v.... Giáo huấn này lưu truyền đạo lý của Chúa với quyền bính của các Tông Đồ, đặc biệt trong việc trình bày các nhân đức xuất phát từ đức tin vào Đức Kitô và là các nhân đức được đức mến, hồng ân chủ yếu của Chúa Thánh Thần, làm cho sinh động. “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ.... thương mến nhau với tình huynh đệ... Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà” (Rm 12,9-13). Giáo lý này cũng dạy chúng ta giải quyết những vấn đề lương tâm dưới ánh sáng của mối tương quan giữa chúng ta với Đức Kitô và với Hội Thánh 28 .
Số 1972 Luật mới được gọi là luật của tình yêu, bởi vì dạy chúng ta hành động vì tình yêu mà Chúa Thánh Thần tuôn đổ, hơn là vì sợ hãi; Luật mới được gọi là luật của ân sủng, bởi vì mang lại sức mạnh của ân sủng để hành động nhờ đức tin và các bí tích; Luật mới được gọi là luật của sự tự do 29 , bởi vì giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc về nghi thức và pháp lý của luật cũ, khiến chúng ta sẵn sàng tự nguyện hành động theo sự thúc đẩy của đức mến, và sau hết làm cho chúng ta chuyển từ thân phận của một tôi tớ “không biết việc chủ làm”, sang tình trạng là bạn hữu của Đức Kitô “vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết (Ga 15,15), hoặc còn tới địa vị là một người con thừa tự nữa 30 .
Số 1973 Luật mới, ngoài các điều răn của mình, cũng bao gồm những lời khuyên Phúc Âm. Sự phân biệt của truyền thống giữa các điều răn của Thiên Chúa với các lời khuyên Phúc Âm được thiết lập liên quan đến đức mến, là sự trọn hảo của đời sống Kitô hữu. Các điều răn nhằm giúp tránh những gì không phù hợp với đức mến. Các lời khuyên có mục tiêu giúp tránh những gì, mặc dầu không đối nghịch, nhưng có thể ngăn cản sự phát triển của đức mến 31 .
Số 1974 Các lời khuyên Phúc Âm biểu lộ sự sung mãn sống động của một đức mến không bao giờ hài lòng, vì đã không cho đi nhiều hơn nữa. Các lời khuyên chứng tỏ sự thúc đẩy của đức mến và khích động sự sẵn sàng thiêng liêng của chúng ta. Luật mới chủ yếu cốt tại các điều răn là mến Chúa yêu người. Các lời khuyên chỉ ra những con đường trực tiếp hơn, những phương tiện dễ dàng hơn và phải được thực thi tùy theo ơn gọi của mỗi người: “Thiên Chúa không muốn mỗi người đều phải giữ tất cả các lời khuyên, nhưng chỉ những lời khuyên nào thích hợp với sự khác biệt của các nhân vị, các thời đại, các hoàn cảnh và các sức lực, như đức mến đòi hỏi; thật vậy, chính đức mến, như là nữ hoàng của mọi nhân đức, mọi giới răn, mọi lời khuyên, và cuối cùng, mọi lề luật và mọi hành động Kitô giáo, nên đức mến ban cho tất cả những điều đó chỗ đứng, trật tự, thời gian và giá trị của chúng" 32 .
TÓM LƯỢC Số 1975 Theo Thánh Kinh, luật là lời dạy dỗ của người cha là Thiên Chúa, quy định cho con người những con đường dẫn tới vinh phúc Thiên Chúa đã hứa và ngăn cấm những con đường của sự dữ.
Số 1976 Luật là “một quy định nào đó của lý trí hướng về công ích, được công bố bởi người có trách nhiệm của cộng đồng 33 .
Số 1977 Đức Kitô là mục đích của Lề Luật. Chỉ có Người dạy dỗ và ban sự công chính của Thiên Chúa.
Số 1978 Luật tự nhiên là sự tham dự của con người vào sự khôn ngoan và sự tốt lành của Thiên Chúa, vì con người đã được tạo dựng theo hình ảnh của Đấng Tạo Hoá của mình. Luật tự nhiên diễn tả phẩm giá của nhân vị và đặt nền tảng cho các quyền lợi và nghĩa vụ căn bản của nhân vị.
Số 1979 Luật tự nhiên là bất biến và trường tồn qua dòng lịch sử. Những quy tắc diễn tả luật tự nhiên, về bản chất vẫn luôn có hiệu lực. Luật tự nhiên là nền tảng cần thiết cho việc xây dựng các quy luật luân lý và cho luật dân sự.
Số 1980 Luật cũ là cấp độ đầu tiên của Lề Luật được mạc khải. Những mệnh lệnh luân lý của Luật cũ được tóm lại trong Mười Điều Răn.
Số 1981 Luật Môisen chứa đựng nhiều chân lý mà lý trí có thể đạt tới một cách tự nhiên. Thiên Chúa đã mạc khải các chân lý ấy bởi vì người ta đã không đọc nổi chúng trong trái tim của mình.
Số 1982 Luật cũ là một sự chuẩn bị nào đó cho Tin Mừng.
Số 1983 Luật mới là ân sủng của Chúa Thánh Thần được lãnh nhận nhờ đức tin vào Đức Kitô và hoạt động nhờ đức mến. Luật mới được diễn tả cách đặc biệt trong Bài giảng trên núi của Chúa và dùng các bí tích để truyền thông ân sủng cho chúng ta.
Số 1984 Luật Tin Mừng hoàn thành, vượt qua và đưa Luật cũ đến sự trọn hảo của nó: kiện toàn các lời hứa của Luật cũ bằng các mối phúc của Nước Trời, kiện toàn các mệnh lệnh của Luật cũ bằng sự biến đổi gốc rễ của các hành vi, là trái tim.
Số 1985 Luật mới là luật của tình yêu, luật của ân sủng, luật của sự tự do.
Số 1986 Ngoài các điều răn, Luật mới còn chứa đựng những lời khuyên Phúc Âm. “Sự thánh thiện của Hội Thánh còn được khích lệ một cách đặc biệt bởi nhiều lời khuyên, mà trong Tin Mừng Chúa đã đề ra để các môn đệ của Người phải tuân giữ 34 .
Mục 2: Ân sủng và sự công chính hóa I. SỰ CÔNG CHÍNH HÓA Số 1987 Ân sủng của Chúa Thánh Thần có sức mạnh công chính hóa chúng ta, nghĩa là, rửa chúng ta sạch tội lỗi, và truyền thông cho chúng ta sự công chính của Thiên Chúa nhờ đức tin vào Chúa Giêsu Kitô 40 và nhờ bí tích Rửa Tội 41 : “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu" (Rm 6, 8-11).
Số 1988 Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, chúng ta được tham dự vào cuộc khổ nạn của Đức Kitô khi chết cho tội lỗi, và được tham dự vào sự phục sinh của Người khi được sinh vào đời sống mới; chúng ta là những chi thể của Thân Thể Người là Hội Thánh, là những ngành nho được ghép vào Cây nho là chính Đức Kitô 43 : “Nhờ Thần Khí chúng ta được dự phần vào Thiên Chúa. Nhờ sự truyền thông Thần Khí, chúng ta được trở nên những người đồng phận với bản tính thần linh.... Vì thế, những ai có Thần Khí ngự nơi mình, đều được thần linh hóa” 44 .
Số 1989 Công trình đầu tiên của ân sủng của Chúa Thánh Thần là sự hối cải, việc này thực hiện sự công chính hoá theo lời rao giảng của Chúa Giêsu lúc khởi đầu Tin Mừng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17). Dưới tác động của ân sủng, con người quay về với Thiên Chúa và quay lưng lại với tội lỗi, và như vậy đón nhận ơn tha thứ và sự công chính từ trên cao. “Sự công chính hóa ... không chỉ là sự tha tội, nhưng còn là sự thánh hoá và canh tân con người nội tâm” 45 .
Số 1990 Sự công chính hóa giải thoát con người khỏi tội lỗi là điều đối nghịch lại tình yêu của Thiên Chúa, và thanh tẩy trái tim họ khỏi tội lỗi. Sự công chính hoá là do sáng kiến của lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng ban ơn tha thứ. Nó giao hoà con người với Thiên Chúa. Nó giải thoát khỏi sự nô lệ tội lỗi và nó chữa lành.
Số 1991 Sự công chính hoá đồng thời là việc đón nhận sự công chính của Thiên Chúa nhờ đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Ở đây, sự công chính cho thấy sự ngay thẳng của tình yêu của Thiên Chúa. Cùng với sự công chính hóa, đức tin, đức cậy và đức mến được đổ tràn vào trái tim chúng ta và sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa được ban cho chúng ta.
Số 1992 Sự công chính hóa là công trạng nhờ cuộc khổ nạn của Đức Kitô cho chúng ta, Người là Đấng đã tự hiến trên thập giá như của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa, và Máu Người trở nên dụng cụ đền tội vì tội lỗi của mọi người. Sự công chính hóa được ban nhờ Phép Rửa, là bí tích của đức tin. Nó làm cho chúng ta nên phù hợp với sự công chính của Thiên Chúa, Đấng nhờ quyền năng của lòng thương xót của Ngài làm cho chúng ta nên công chính tự bên trong. Sự công chính hoá có mục tiêu là vinh quang của Thiên Chúa và của Đức Kitô, và hồng ân của đời sống vĩnh cửu 46 . “Nhưng ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến Luật Môisen. Điều này, sách Luật và các ngôn sứ làm chứng. Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô. Tất cả những ai tin đều được như thế, bất luận là ai. Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do hồng ân Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin. Như vậy, Thiên Chúa cho thấy Ngài là Đấng Công Chính. Trước kia, trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Ngài đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm. Nhưng bây giờ, Ngài muốn cho thấy rằng Ngài vừa là Đấng Công Chính, vừa làm cho kẻ tin vào Đức Giêsu được nên công chính (Rm 3,21-26).
Số 1993 Sự công chính hoá thiết lập sự cộng tác giữa ân sủng của Thiên Chúa và sự tự do của con người. Về phía con người, sự công chính hóa được diễn tả trong sự ưng thuận của đức tin đối với lời Thiên Chúa, Đấng mời gọi con người hối cải, và trong sự cộng tác của đức mến với sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, Đấng khởi xướng và gìn giữ sự ưng thuận đó: “Khi Thiên Chúa đánh động trái tim con người nhờ sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, con người không phải là không làm gì khi đón nhận sự linh hứng này, vì họ có thể khước từ sự linh hứng đó; tuy nhiên, nếu không có ân sủng của Thiên Chúa, họ không thể đạt tới sự công chính trước mặt Ngài bằng ý chí tự do của mình” 47 .
Số 1994 Sự công chính hóa là công trình vô cùng tuyệt hảo của tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức Kitô Giêsu và được Chúa Thánh Thần ban tặng. Thánh Augustinô cho rằng “việc công chính hóa kẻ vô đạo là một công trình còn lớn lao hơn cả trời đất.... Quả vậy, trời đất sẽ qua đi; còn ơn cứu độ và công chính hóa những người được tiền định sẽ tồn tại” 48 . Thánh nhân còn cho rằng sự công chính hóa các kẻ tội lỗi vượt trên công trình tạo dựng các Thiên thần trong sự công chính, vì điều này làm chứng lòng thương xót lớn lao hơn của Thiên Chúa.
Số 1995 Chúa Thánh Thần là vị thầy nội tâm. Sự công chính hoá, khi làm cho “con người nội tâm” 49 được sinh ra, bao hàm sự thánh hoá toàn thể con người: “Trước đây anh em đã dùng chi thể của mình mà làm những điều ô uế và sự vô luân, để trở thành vô luân, thì nay anh em cũng hãy dùng chi thể làm nô lệ sự công chính để trở nên thánh thiện.... Nhưng giờ đây, anh em đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi, mà trở thành nô lệ của Thiên Chúa; anh em thu được kết quả là được trở nên thánh thiện, và rốt cuộc được sống đời đời” (Rm 6,19.22).
II. ÂN SỦNG Số 1996 Sự công chính hoá của chúng ta là do ân sủng của Thiên Chúa. Ân sủng là một hồng ân, một sự trợ giúp nhưng không mà Thiên Chúa ban cho chúng ta để chúng ta đáp lại lời kêu gọi của Ngài: trở thành con cái Thiên Chúa 50 , làm nghĩa tử 51 , tham dự vào bản tính Thiên Chúa 52 , và vào sự sống muôn đời 53 .
Số 1997 Ân sủng là sự tham dự vào sự sống Thiên Chúa, đưa chúng ta vào sự thân mật của sự sống Chúa Ba Ngôi: nhờ bí tích Rửa Tội, Kitô hữu tham dự vào ân sủng của Đức Kitô, Đầu của Thân Thể Người. Với tư cách là “nghĩa tử”, họ có thể gọi Thiên Chúa là “Cha”, trong sự kết hợp với Người Con Một. Họ lãnh nhận sự sống của Thần Khí, Đấng thổi hơi đức mến trên họ và là Đấng hình thành Hội Thánh.
Số 1998 Ơn gọi vào sự sống vĩnh cửu này là một ơn siêu nhiên. Nó hoàn toàn tùy thuộc vào sáng kiến nhưng không của Thiên Chúa, bởi vì chỉ mình Ngài có thể tự mạc khải và tự ban tặng chính mình. Ơn gọi đó vượt trên mọi tài năng của trí tuệ và sức mạnh của ý chí nhân linh, cũng như của mọi thụ tạo 54 .
Số 1999 Ân sủng của Đức Kitô là một hồng ân nhưng không, Thiên Chúa ban cho chúng ta từ sự sống của Ngài, nhờ Chúa Thánh Thần tuôn đổ vào linh hồn chúng ta để chữa trị nó khỏi tội lỗi và thánh hóa nó: Đó là ơn thánh hóa hay ơn thần linh hóa, được lãnh nhận trong bí tích Rửa Tội. Ân sủng này là nguồn mạch của công trình thánh hóa trong chúng ta 55 : “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thụ tạo mới. Cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được giao hoà với Ngài (2 Cr 5,17-18).
Số 2000 Ơn thánh hóa là một hồng ân thường xuyên, một trạng thái bền vững và siêu nhiên, kiện toàn chính linh hồn để nó có khả năng sống với Thiên Chúa và hành động vì tình yêu của Ngài. Chúng ta phân biệt ơn thường sủng (gratia habitualis) là trạng thái trường tồn để sống và hành động theo lời kêu gọi của Thiên Chúa, và các ơn hiện sủng (gratiae actuales) là những can thiệp của Thiên Chúa, hoặc vào lúc khởi đầu cuộc hối cải, hoặc trong tiến trình của công cuộc thánh hóa.
Số 2001 Sự chuẩn bị của con người để đón nhận ân sủng đã là một công trình của ân sủng. Điều này là cần thiết để khơi dậy và nâng đỡ sự cộng tác của chúng ta vào việc công chính hóa nhờ đức tin, và vào việc thánh hóa nhờ đức mến. Thiên Chúa kiện toàn nơi chúng ta điều Ngài đã khởi sự, “vì Ngài khởi sự bằng cách tác động để chúng ta ước muốn, Ngài kiện toàn bằng cách cộng tác với những người đã muốn 56 . “Thật ra, khi chúng ta làm việc, là chúng ta cộng tác với Đấng đang làm việc, bởi vì lòng thương xót của Ngài đi bước trước đến với chúng ta. Ngài đi bước trước, để chúng ta được chữa lành, và Ngài dõi theo sau để sau khi được chữa lành, chúng ta nên cường tráng; Ngài đi bước trước, để chúng ta được kêu gọi, Ngài dõi theo sau để chúng ta được vinh quang; Ngài đi bước trước, để chúng ta sống một cách đạo đức, Ngài dõi theo sau để chúng ta được luôn luôn sống với Ngài, bởi vì không có Ngài, chúng ta không thể làm được gì” 57 .
Số 2002 Sáng kiến tự do của Thiên Chúa đòi hỏi sự đáp trả tự do của con người, bởi vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, khi ban cho họ, cùng với sự tự do, khả năng nhận biết và yêu mến Ngài. Linh hồn chỉ tự nguyện mới có thể tiến vào sự hiệp thông của tình yêu. Thiên Chúa trực tiếp đụng chạm và đánh động trái tim con người. Ngài đặt trong con người sự khát vọng chân lý và điều thiện mà chỉ mình Ngài có thể làm thỏa mãn. Các lời hứa ban “sự sống đời đời” đáp lại khát vọng này, vượt quá mọi hy vọng: “Lạy Chúa, sau những công trình rất tốt đẹp của Chúa, mặc dầu Chúa đã thanh thản làm nên chúng, Chúa đã nghỉ ngơi ngày thứ bảy, chính là để nói trước với chúng con qua tiếng nói trong Sách của Chúa rằng, sau những công trình rất tốt đẹp của chúng con mà chính Chúa đã ban cho chúng con, thì chúng con sẽ nghỉ ngơi trong ngày sabat của đời sống vĩnh cửu trong Chúa” 58 .
Số 2003 Ân sủng, trước hết và đặc biệt, là hồng ân của Thần Khí, Đấng công chính hóa và thánh hóa chúng ta. Nhưng ân sủng cũng gồm các hồng ân Thần Khí rộng ban cho chúng ta để liên kết chúng ta vào công trình của Ngài, để làm cho chúng ta có khả năng cộng tác vào công trình cứu độ những người khác và làm phát triển Thân Thể Đức Kitô là Hội Thánh. Đó là các ân sủng bí tích (gratiae sacramentales), là những hồng ân riêng cho những bí tích khác nhau. Ngoài ra, còn có các ân sủng đặc biệt (gratiae speciales) gọi là các đặc sủng (charismata) theo từ Hi lạp, mà thánh Phaolô sử dụng, có nghĩa là đặc ân, hồng ân nhưng không, phúc lợi 59 . Dù có đặc tính nào đi nữa, đôi khi là ngoại thường, như ơn làm phép lạ hay ơn nói tiếng lạ, các đặc sủng đều quy hướng về ơn thánh hóa và có mục tiêu là công ích của Hội Thánh. Các đặc sủng đều phục vụ đức mến là nhân đức xây dựng Hội Thánh 60 .
Số 2004 Trong các ân sủng đặc biệt, phải kể đến các ơn chức phận (gratiae status) là những ơn được ban để thực thi các trách nhiệm của đời sống Kitô hữu và các thừa tác vụ trong Hội Thánh: “Chúng ta có những đặc sủng khác nhau tùy theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Được ơn làm ngôn sứ, thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin. Được ơn phục vụ, thì phải phục vụ. Ai dạy bảo, thì cứ dạy bảo. Ai khuyên răn, thì cứ khuyên răn. Ai phân phát, thì phải chân thành. Ai chủ tọa, thì phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái, thì vui vẻ mà làm (Rm 12,6-8).
Số 2005 Ân sủng, vì là siêu nhiên, nên vượt tầm kinh nghiệm của chúng ta, và chỉ có thể được nhận biết bằng đức tin. Vì vậy, chúng ta không thể dựa trên tình cảm hay các việc làm của chúng ta để từ đó suy ra rằng chúng ta đã được công chính hóa hay được cứu độ 61 . Tuy nhiên, theo lời Chúa phán: “Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai" (Mt 7,20), việc nhìn xem các hồng ân của Thiên Chúa, trong đời sống chúng ta và trong đời sống các Thánh, mang lại cho chúng ta một bảo chứng là ân sủng đang hoạt động trong chúng ta và khơi dậy nơi chúng ta một đức tin luôn vững mạnh hơn, và một thái độ nghèo khó đầy tín thác. Một trong những minh họa đẹp nhất của thái độ này là câu trả lời của thánh nữ Jeanne d'Arc trước một câu hỏi gài bẫy của các quan tòa của Giáo Hội: “Khi bị hỏi: cô có biết mình đang sống trong ân sủng của Thiên Chúa hay không, cô trả lời: 'Nếu tôi chưa có, xin Chúa ban cho tôi; nếu tôi có rồi, xin Chúa thương gìn giữ tôi trong ân sủng Ngài'” 62 .
III. CÔNG TRẠNG Số 2006 “Chúa được tôn vinh trong cộng đoàn các Thánh, và khi tuyên dương công trạng của các ngài, Chúa tuyên dương chính hồng ân của Chúa” 63 . Từ “công trạng” thường được dùng để chỉ sự trả công mà cộng đồng hay xã hội đánh giá hành động của một thành viên của mình, xét như điều đó tốt hay xấu, đáng được thưởng hay bị phạt. Công trạng thuộc về nhân đức công bằng theo nguyên tắc về sự bình đẳng, là nguyên tắc chi phối nhân đức đó.
Số 2007 Trước mặt Thiên Chúa, theo nghĩa hẹp về quyền lợi, con người không có công trạng gì. Giữa Thiên Chúa và chúng ta có sự bất bình đẳng không thể đo lường, bởi vì chúng ta đón nhận mọi sự từ nơi Ngài, là Đấng Tạo Hoá của chúng ta.
Số 2008 Công trạng của con người trước mặt Thiên Chúa trong đời sống Kitô hữu là do Thiên Chúa đã tự ý muốn liên kết con người với công trình của ân sủng của Ngài. Hành động đầy tình phụ tử của Thiên Chúa, bằng sự thúc đẩy của ân sủng, là trước hết, thứ đến mới là hành động tự do của con người trong sự cộng tác của họ, cho nên các công trạng của các việc tốt lành trước hết phải được quy về ân sủng của Thiên Chúa, rồi mới quy về tín hữu. Ngoài ra chính công trạng của con người phải quy về Thiên Chúa, bởi vì các việc tốt lành của họ đều diễn ra trong Đức Kitô, nhờ những khởi xướng và trợ giúp của Chúa Thánh Thần.
Số 2009 Nhờ ân sủng, ơn được làm nghĩa tử cho chúng ta được tham dự vào bản tính Thiên Chúa, có thể đem lại cho chúng ta một công trạng đích thực theo đức công chính nhưng không của Thiên Chúa. Đây là một quyền có được nhờ ân sủng, quyền sung mãn của tình yêu, làm cho chúng ta nên những người “đồng thừa tự” với Đức Kitô và xứng đáng được hưởng phần gia tài đã được hứa ban là đời sống vĩnh cửu. Công trạng do các việc tốt lành của chúng ta là những hồng ân của lòng nhân hậu của Thiên Chúa 65 . “Ân sủng đã được ban trước, giờ đây nợ được trả.... Các hồng ân của Thiên Chúa là những công trạng của bạn” 66 .
Số 2010 Vì sự khởi xướng trong lãnh vực ân sủng thuộc về Thiên Chúa, nên không ai có thể có công trạng gì để lãnh nhận ân sủng đầu tiên nơi cội nguồn việc hối cải, ơn tha thứ và sự công chính hóa. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần và của đức mến, chúng ta mới có thể lập công cho bản thân và cho tha nhân để được những ân sủng hữu ích cho việc thánh hoá, cho việc gia tăng ân sủng và đức mến của chúng ta, cũng như để đạt tới sự sống vĩnh cửu. Theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa, chúng ta cũng có thể lập công để đáng lãnh nhận những lợi ích trần thế, như sức khoẻ, tình bằng hữu. Những ân sủng và hồng ân này là đối tượng của kinh nguyện Kitô giáo. Việc cầu nguyện đem lại ân sủng cần thiết cho chúng ta để các hành động có được công trạng.
Số 2011 Tình yêu Đức Kitô trong chúng ta là nguồn mạch mọi công trạng của chúng ta trước mặt Thiên Chúa. Ân sủng, khi kết hợp chúng ta với Đức Kitô bằng một tình yêu năng động, bảo đảm phẩm tính siêu nhiên của các hành vi của chúng ta và do đó, bảo đảm công trạng của các việc đó trước mặt Thiên Chúa cũng như trước mặt người ta. Các Thánh luôn ý thức mãnh liệt rằng các công trạng của các ngài hoàn toàn là ân sủng: “Sau cuộc lưu đày trần thế, con hy vọng sẽ được về vui hưởng Chúa nơi Quê hương, nhưng con không muốn thu thập công trạng để được lên trời, con muốn làm việc chỉ vì tình yêu Chúa mà thôi.... Lúc cuộc đời xế bóng, con sẽ đến trước mặt Chúa với đôi bàn tay trắng, vì, lạy Chúa, con không xin Chúa đếm các việc con làm. Mọi sự công chính của chúng con đều mang tì vết trước mắt Chúa. Vì vậy, con muốn được mặc lấy sự công chính của chính Chúa và đón nhận từ tình yêu Chúa phần sở hữu muôn đời là chính Chúa.” 67
IV. SỰ THÁNH THIỆN KITÔ GIÁO Số 2012 “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài.... Vì những ai Ngài đã biết từ trước, thì Ngài đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài, để Con của Ngài làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Ngài cũng kêu gọi; những ai Ngài đã kêu gọi, thì Ngài cũng làm cho nên công chính; những ai Ngài đã làm cho nên công chính, thì Ngài cũng cho hưởng phúc vinh quang" (Rm 8,28-30).
Số 2013 “Tất cả các Kitô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô hữu và đến sự trọn hảo của đức mến” 68 . Mọi người đều được kêu gọi nên thánh: “Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48): “Để đạt được sự trọn hảo đó, các tín hữu phải sử dụng những sức mạnh mình đã lãnh nhận tuỳ theo mức độ Đức Kitô đã ban, để khi thực hành thánh ý Chúa Cha trong mọi sự, họ sẽ hiến thân với hết tâm hồn cho vinh quang Thiên Chúa và cho việc phục vụ người lân cận. Như vậy, sự thánh thiện của dân Thiên Chúa sẽ trổ sinh hoa trái dồi dào, như đã thấy một cách rõ ràng trong lịch sử Hội Thánh qua đời sống của bao vị thánh 69 .
Số 2014 Sự tiến bộ về đời sống thiêng liêng hướng đến sự kết hợp ngày càng mật thiết hơn với Đức Kitô. Sự kết hợp này được gọi là “thần bí” (“mystica”), bởi vì tham dự vào mầu nhiệm Đức Kitô nhờ các bí tích – “các mầu nhiệm thánh” (“sancta mysteria") -, và trong Người, tham dự vào mầu nhiệm của Ba Ngôi Chí Thánh. Thiên Chúa kêu gọi tất cả chúng ta đến sự kết hợp mật thiết này với Ngài, mặc dù những ân sủng đặc biệt và những dấu chỉ ngoại thường của đời sống thần bí này chỉ được ban cho một số người, để biểu lộ hồng ân nhưng không được ban cho mọi người.
Số 2015 Con đường của sự trọn hảo phải đi qua thập giá. Không thể có sự thánh thiện, nếu không có sự từ bỏ và cuộc chiến đấu thiêng liêng. Sự tiến bộ về đời sống thiêng liêng bao hàm sự khổ chế và hy sinh hãm mình, là những điều từng bước dẫn tới việc sống trong bình an và hoan lạc của các mối phúc: “Ai trèo lên, người đó không bao giờ ngừng từ bắt đầu này tiếp sau bắt đầu kia, qua những bắt đầu không chấm dứt. Người đó không bao giờ ngừng ao ước điều người đó đã biết rồi” 71 .
Số 2016 Các con cái của Mẹ thánh chúng ta là Hội Thánh, hy vọng một cách chính đáng được Thiên Chúa là Cha ban ơn bền đỗ đến cùng và sự trả công vì những công việc tốt lành đã được thực hiện nhờ ân sủng của Ngài trong sự hiệp thông với Chúa Giêsu 72 . Các tín hữu, tuân giữ cùng một quy luật sống, được tham dự vào “niềm hy vọng hồng phúc” của những người mà lòng thương xót của Thiên Chúa đã quy tụ trong “Thành thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang (Kh 21,2).
TÓM LƯỢC Số 2017 Ân sủng của Chúa Thánh Thần đem lại cho chúng ta sự công chính của Thiên Chúa. Khi kết hợp chúng ta, nhờ đức tin và Phép Rửa, vào cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Đức Kitô, Thần Khí làm cho chúng ta được tham dự vào sự sống của Người.
Số 2018 Cũng như sự hối cải, sự công chính hoá có hai phương diện. Dưới tác động của ân sủng, con người quay về với Thiên Chúa và quay lưng lại với tội lỗi, và như vậy, đón nhận ơn tha thứ và sự công chính từ trên cao.
Số 2019 Sự công chính hóa bao hàm sự tha thứ tội lỗi, sự thánh hóa và sự canh tân con người nội tâm.
Số 2020 Sự công chính hoá là công trạng nhờ cuộc khổ nạn của Đức Kitô cho chúng ta. Nó được ban cho chúng ta nhờ Phép Rửa. Nó làm cho chúng ta nên phù hợp với sự công chính của Thiên Chúa, Đấng làm cho chúng ta nên công chính. Sự công chính hoá có mục tiêu là vinh quang của Thiên Chúa và của Đức Kitô, và hồng ân của đời sống vĩnh cửu. Nó là công trình hết sức tuyệt vời của lòng thương xót của Thiên Chúa
Số 2021 Ân sủng là sự trợ giúp Thiên Chúa ban cho chúng ta, để chúng ta đáp lại lời kêu gọi là trở thành nghĩa tử của Ngài. Ân sủng đưa chúng ta vào sự thân mật của sự sống Chúa Ba Ngôi.
Số 2022 Trong công trình của ân sủng, sáng kiến của Thiên Chúa đi bước trước, chuẩn bị và khơi dậy lời đáp trả tự do của con người. Ân sủng đáp ứng những khát vọng sâu xa của sự tự do của con người; ân sủng kêu gọi sự tự do đó cộng tác với mình, và kiện toàn sự tự do đó.
Số 2023 Ơn thánh hóa là một hồng ân nhưng không, Thiên Chúa ban cho chúng ta từ sự sống của Ngài, nhờ Chúa Thánh Thần tuôn đổ vào linh hồn chúng ta, để chữa trị nó khỏi tội lỗi và thánh hóa nó.
Số 2024 Ơn thánh hóa làm cho chúng ta nên “đẹp lòng Thiên Chúa”. Còn các đặc sủng, là những ân sủng đặc biệt của Chúa Thánh Thần, quy về ơn thánh hóa, và có mục tiêu là công ích của Hội Thánh. Thiên Chúa cũng hành động qua nhiều ơn hiện sủng, được phân biệt với ơn thường sủng trường tồn trong chúng ta.
Số 2025 Trước mặt Thiên Chúa chúng ta không có công trạng gì, nếu Thiên Chúa đã không có một kế hoạch tự do, muốn liên kết con người với công trình của ân sủng của Ngài. Công trạng trước hết thuộc về ân sủng của Thiên Chúa, thứ đến mới thuộc về sự cộng tác của con người. Công trạng của con người quy về Thiên Chúa.
Số 2026 Vì chúng ta được làm nghĩa tử, ân sủng của Chúa Thánh Thần có thể đem lại cho chúng ta một công trạng đích thực theo đức công chính nhưng không của Thiên Chúa. Tình yêu trong chúng ta là nguồn mạch chủ yếu của mọi công trạng trước mặt Thiên Chúa.
Số 2027 Không ai có thể có công trạng gì để lãnh nhận ân sủng đầu tiên là cội nguồn của việc hối cải. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể lập công cho bản thân và cho tha nhân để được mọi ân sủng hữu ích nhằm đạt tới sự sống vĩnh cửu, cũng như những lợi ích trần thế cần thiết.
Số 2028 “Tất cả các Kitô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô hữu và đến sự trọn hảo của đức mến” 73 . “Sự trọn hảo Kitô giáo chỉ có một giới hạn, đó là không có giới hạn nào cả 74 .
Số 2029 “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (Mt 16,24).
Mục 3: Hội Thánh, Mẹ và Thầy Số 2030 Chính trong Hội Thánh, trong sự hiệp thông với tất cả những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội mà Kitô hữu chu toàn ơn gọi của mình. Từ Hội Thánh, họ đón nhận Lời Thiên Chúa chứa đựng các đạo lý của “Luật Đức Kitô” 75 . Từ Hội Thánh, họ lãnh nhận ân sủng của các bí tích nâng đỡ họ trên “đường”. Từ Hội Thánh, họ học mẫu gương của sự thánh thiện; họ nhận ra hình ảnh và nguồn mạch của sự thánh thiện này nơi Đức Trinh Nữ Maria rất thánh, phân định ra sự thánh thiện này qua chứng từ chân chính của những người đang sống theo sự thánh thiện; họ khám phá sự thánh thiện này trong truyền thống linh đạo và trong lịch sử lâu dài của các Thánh, những vị đã đi trước họ và phụng vụ đang mừng kính các ngài theo chu kỳ các Thánh.
Số 2031 Đời sống luân lý là một việc phượng tự thiêng liêng. “Chúng ta dâng hiến thân xác mình làm của lễ sống động, thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa” 76 , trong Thân Thể Đức Kitô mà chúng ta họp thành, và trong sự hiệp thông với hiến lễ Thánh Thể của Người. Trong phụng vụ và trong việc cử hành các bí tích, lời cầu nguyện và đạo lý được kết hợp với ân sủng của Đức Kitô, để soi sáng và nuôi dưỡng cách hành động của Kitô hữu. Cũng như toàn bộ đời sống Kitô hữu, đời sống luân lý gặp được nguồn mạch và tột đỉnh của mình trong Hy lễ Thánh Thể.
I. ĐỜI SỐNG LUÂN LÝ VÀ HUẤN QUYỀN CỦA HỘI THÁNH Số 2032 Hội Thánh, là “cột trụ và điểm tựa của chân lý” (1 Tm 3,15), “đã lãnh nhận từ các Tông Đồ mệnh lệnh long trọng của Đức Kitô là phải loan báo chân lý cứu độ” 77 . “Hội Thánh phải loan báo các nguyên tắc luân lý trong mọi thời và ở mọi nơi, kể cả những nguyên tắc về trật tự xã hội, cũng như phải phán đoán về tất cả các thực tại nhân sinh, trong mức độ mà các quyền căn bản của con người hay việc cứu độ của các linh hồn đòi hỏi” 78 .
Số 2033 Huấn quyền của các mục tử Hội Thánh về vấn đề luân lý thường được thực thi trong việc dạy giáo lý và giảng dạy, với sự trợ giúp của các công trình của các nhà thần học và các tác giả linh đạo. Như vậy, từ đời nọ đến đời kia, dưới sự hướng dẫn và cảnh giác của các mục tử, “kho tàng luân lý Kitô giáo được lưu truyền, kho tàng đó là một tổng hợp đặc trưng các quy luật, các mệnh lệnh và các nhân đức phát xuất từ đức tin vào Đức Kitô và được ban sự sống bởi đức mến. Một cách theo truyền thống, việc dạy giáo lý này lấy Mười Điều Răn, cùng với Tín biểu và kinh Lạy Cha, làm nền tảng, vì Mười Điều Răn loan báo những nguyên tắc của đời sống luân lý, hữu hiệu cho tất cả mọi người.
Số 2034 Đức Giáo Hoàng và các Giám mục, với tư cách là “những thầy dạy đích thực, nghĩa là những người giảng dạy bằng quyền bính của Đức Kitô, rao giảng cho dân được trao phó cho các ngài, những điều phải tin và phải áp dụng vào cách ăn nết ở” 79 . Huấn quyền thông thường và phổ quát của Đức Giáo Hoàng và các Giám mục hiệp thông với ngài, dạy các tín hữu chân lý phải tin, đức mến phải thực thi, vinh phúc phải trông cậy.
Số 2035 Cấp độ tối thượng của việc tham dự vào quyền bính của Đức Kitô được bảo đảm bởi đặc sủng là ơn bất khả ngộ. “Kho tàng mạc khải thần linh trải rộng bao nhiêu, thì ơn này trải rộng bấy nhiêu” 80 ; ơn này cũng trải rộng tới tất cả các yếu tố của đạo lý, trong đó có đạo lý về luân lý, nếu không có những yếu tố này, các chân lý cứu độ của đức tin sẽ không thể được bảo toàn, trình bày hay tuân giữ 81 .
Số 2036 Quyền bính của Huấn quyền cũng trải rộng đến các mệnh lệnh đặc thù của luật tự nhiên, bởi vì việc tuân giữ các mệnh lệnh đó, do Đấng Tạo Hoá đòi hỏi, là cần thiết để được cứu độ. Khi nhắc lại các quy định của luật tự nhiên, Huấn quyền của Hội Thánh thực thi phần chính yếu của nhiệm vụ tiên tri của mình, là loan báo cho mọi người họ thật sự là gì, và nhắc nhở họ phải là gì trước mặt Thiên Chúa 82 .
Số 2037 Luật của Thiên Chúa, được ký thác cho Hội Thánh, với tính cách là con đường của sự sống và của chân lý, được trao cho các tín hữu. Vì vậy, các tín hữu có quyền được giáo huấn về các mệnh lệnh cứu độ của Thiên Chúa, chúng thanh luyện trí phán đoán và nhờ ân sủng, chữa lành lý trí con người đã bị tổn thương. Các tín hữu có nghĩa vụ tuân giữ các hiến chế và sắc lệnh do quyền bính hợp pháp của Hội Thánh công bố. Những quyết định này, mặc dầu mang tính kỷ luật, vẫn đòi sự mau mắn vâng phục trong đức mến.
Số 2038 Trong việc giảng dạy và áp dụng luân lý Kitô giáo, Hội Thánh cần đến sự tận tâm của các mục tử, kiến thức của các nhà thần học và sự đóng góp của mọi Kitô hữu và mọi người thiện chí. Đức tin và việc thực hành Tin Mừng đem lại cho mỗi người một kinh nghiệm về đời sống “trong Đức Kitô”, kinh nghiệm này soi sáng cho họ và giúp họ có khả năng đánh giá những thực tại thần linh và nhân linh theo Thần Khí của Thiên Chúa. Như vậy, Chúa Thánh Thần có thể dùng những kẻ thấp hèn nhất, để soi sáng cho những người thông thái và những người có chức phận cao trọng hơn.
Số 2039 Các thừa tác vụ phải được thực thi trong tinh thần phục vụ huynh đệ và tận tụy đối với Hội Thánh, nhân danh Chúa 85 . Đồng thời khi đưa ra phán đoán luân lý về các hành vi cá vị của mình, lương tâm của mỗi người phải tránh đừng khép kín trong sự quan tâm cá nhân. Hết sức có thể, phải cố gắng tự mở rộng để quan tâm đến lợi ích của mọi người, như được trình bày trong luật luân lý tự nhiên và được mạc khải, và tiếp đó trong luật Hội Thánh và trong đạo lý đích thực của Huấn quyền về các vấn đề luân lý. Không được đối nghịch lương tâm cá vị và lý trí với luật luân lý hay với Huấn quyền của Hội Thánh.
Số 2040 Như vậy, giữa các Kitô hữu, một tinh thần con thảo đích thực đối với Hội Thánh có thể tăng trưởng. Tinh thần đó là sự triển nở bình thường của ân sủng Phép Rửa, ân sủng này đã sinh chúng ta vào trong lòng Hội Thánh và làm cho chúng ta trở nên những chi thể của Thân Thể Đức Kitô. Hội Thánh, với sự quan tâm từ mẫu của mình, ban cho chúng ta lòng thương xót của Thiên Chúa, lòng thương xót này vượt trên mọi tội lỗi của chúng ta, và hành động một cách đặc biệt trong bí tích Hòa Giải. Hội Thánh, như một người mẹ ân cần, cũng rộng ban cho chúng ta mỗi ngày, trong phụng vụ của mình, lương thực là Lời và Thánh Thể của Chúa.
II. CÁC ĐIỀU RĂN CỦA HỘI THÁNH Số 2041 Các điều răn của Hội Thánh được đặt trong đường hướng một đời sống luân lý gắn liền với đời sống phụng vụ và được đời sống phụng vụ nuôi dưỡng. Tính cách bắt buộc của các luật thiết định này được công bố bởi các quyền bính mục vụ, có mục đích cung cấp cho các tín hữu mức tối thiểu rất cần thiết về tinh thần cầu nguyện và về nỗ lực luân lý, để gia tăng lòng mến Chúa yêu người.
Số 2042 Điều răn thứ nhất (“Vào các Chúa nhật và các ngày lễ buộc, các tín hữu phải tham dự Thánh Lễ và tránh những công việc nô dịch”) đòi các tín hữu thánh hóa ngày tưởng niệm cuộc phục sinh của Chúa, cũng như những lễ phụng vụ chính để tôn kính các mầu nhiệm của Chúa, của Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc và của các Thánh, trước hết bằng việc tham dự cuộc cử hành bí tích Thánh Thể, trong đó cộng đoàn Kitô hữu được quy tụ, và tránh không làm những việc lao động và những việc tự bản chất có thể cản trở việc thánh hóa những ngày đó 86 . Điều răn thứ hai (“Xưng tội trong một năm ít là một lần”) bảo đảm việc chuẩn bị rước Thánh Thể bằng việc lãnh nhận bí tích Hòa Giải, nối tiếp công việc hối cải và tha thứ của bí tích Rửa Tội 87 . Điều răn thứ ba (“Rước Mình Thánh Chúa ít là một lần trong mùa Phục Sinh ) bảo đảm mức tối thiểu trong việc rước Mình và Máu Thánh Chúa, được liên kết với các lễ trong mùa Phục Sinh, vì Phục Sinh là nguồn gốc và là trung tâm của phụng vụ Kitô giáo 88 .
Số 2043 Điều răn thứ tư (“Kiêng thịt và giữ chay trong những ngày thống hối do Hội Thánh quy định) bảo đảm thời gian khổ chế và thống hối để chuẩn bị cho chúng ta mừng các lễ phụng vụ, và giúp chúng ta làm chủ được các bản năng và đạt tới sự tự do của trái tim 89 . Điều răn thứ năm (“Đóng góp cho các nhu cầu của Hội Thánh ) dạy các tín hữu có bổn phận đóng góp cho các nhu cầu vật chất của Hội Thánh, mỗi người tùy theo khả năng của mình 90 .
III. ĐỜI SỐNG LUÂN LÝ VÀ CHỨNG TỪ TRUYỀN GIÁO Số 2044 Lòng trung thành của những người đã lãnh Phép Rửa là điều kiện tiên quyết đối với việc loan báo Tin Mừng và đối với sứ vụ của Hội Thánh trong trần gian. Để tỏ cho mọi người thấy sức mạnh của nó về chân lý và sự rạng ngời, sứ điệp cứu độ phải được chứng thực bằng chứng từ của đời sống các Kitô hữu. “Chính chứng từ của đời sống Kitô hữu và các việc tốt lành được thực thi với tinh thần siêu nhiên, có sức mạnh lôi kéo người ta đến với đức tin và đến với Thiên Chúa 91 .
Số 2045 Bởi vì là các chi thể của Thân Thể mà Đức Kitô là Đầu, các Kitô hữu góp phần vào việc xây dựng Hội Thánh bằng sự kiên trì trong xác tín của mình và trong đời sống luân lý của mình. Hội Thánh được tăng số, lớn lên và triển nở bằng sự thánh thiện của các tín hữu của mình, cho tới khi chính họ làm thành “con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,13) 92 .
Số 2046 Bằng đời sống theo Đức Kitô của mình, các Kitô hữu làm cho Nước Thiên Chúa mau đến, đó là “Nước của công bằng, của tình yêu và của bình an 94 . Nhưng không vì thế mà họ xao lãng nhiệm vụ trần thế của mình; chính họ, trung thành với Thầy mình, chu toàn nhiệm vụ đó với sự ngay thẳng, với sự nhẫn nại và với tình yêu.
Số 2047 Đời sống luân lý là một việc phượng tự thiêng liêng. Cách hành động của Kitô hữu được nuôi dưỡng trong phụng vụ và trong việc cử hành các bí tích.
Số 2048 Các điều răn của Hội Thánh liên quan đến đời sống luân lý và Kitô giáo, gắn liền với đời sống phụng vụ, và được đời sống phụng vụ nuôi dưỡng.
Số 2049 Huấn quyền của các mục tử Hội Thánh về vấn đề luân lý thường được thực thi trong việc dạy giáo lý và giảng dạy, dựa trên nền tảng Mười Điều Răn, vì Mười Điều Răn loan báo những nguyên tắc của đời sống luân lý, hữu hiệu cho tất cả mọi người.
Số 2050 Đức Giáo Hoàng và các Giám mục, với tư cách là những thầy dạy đích thực, rao giảng cho dân Thiên Chúa những điều phải tin và phải áp dụng vào cách ăn nết ở. Các ngài cũng có quyền phán đoán về các vấn đề luân lý trong lãnh vực của luật tự nhiên và của lý trí.
Số 2051 Ơn bất khả ngộ của Huấn quyền của các mục tử trải rộng tới tất cả các yếu tố của đạo lý, trong đó có đạo lý về luân lý, nếu không có những yếu tố này, các chân lý cứu độ của đức tin sẽ không thể được bảo toàn, trình bày hay tuân giữ.
MƯỜI ĐIỀU RĂN Xuất hành 20,2-17 Đệ nhị luật 5,6-21 Công thức giáo lý “Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai cập, khỏi cảnh nô lệ. “Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi Ai cập, khỏi cảnh nô lệ. Thứ nhất: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ. Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông. Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời. Ngươi không được dùng danh Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì Chúa không dung tha kẻ dùng danh Ngài một cách bất xứng. Ngươi không được dùng danh Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì Thiên Chúa không dung tha kẻ dùng danh Ngài một cách bất xứng. Thứ hai: Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ. Ngươi hãy nhớ ngày sabat, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Ngươi hãy giữ ngày sabat, mà coi đó là ngày thánh. Thứ ba: Giữ ngày Chúa nhật. Còn ngày thứ bảy là ngày sabat kính Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì trong sáu ngày, Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi và muôn loài trong đó, nhưng Ngài đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Chúa đã chúc phúc cho ngày sabat và coi đó là ngày thánh. Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi. Ngươi hãy thờ cha kính mẹ. Thứ bốn: Thảo kính cha mẹ. Ngươi không được giết người. Ngươi không được giết người. Thứ năm: Chớ giết người. Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được ngoại tình. Thứ sáu: Chớ làm sự dâm dục. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được trộm cắp. Thứ bảy: Chớ lấy của người. Ngươi không được làm chứng gian hại người. Ngươi không được làm chứng dối hại người. Thứ tám: Chớ làm chứng dối. Ngươi không được ham muốn nhà người ta. Ngươi không được ham muốn vợ người ta. Thứ chín: Chớ muốn vợ chồng người. Ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa hay bất cứ vật gì của người ta”. Ngươi không được thèm muốn... bất cứ vật gì của người ta”. Thứ mười: Chớ tham của người”.
ĐOẠN THỨ HAI: MƯỜI ĐIỀU RĂN “Thưa Thầy, tôi phải làm gì...?" Số 2052 “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời ?” Để trả lời cho người thanh niên đặt câu hỏi, Chúa Giêsu nêu lên trước tiên sự cần thiết phải nhận biết Thiên Chúa như “Đấng tốt lành mà thôi”, như Điều Thiện tuyệt hảo và như nguồn mạch của mọi điều tốt lành. Rồi Chúa Giêsu tuyên bố với người đó: “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn”. Và Người liệt kê các điều răn về tình yêu đối với người lân cận: “Ngươi không được giết người, ngươi không được ngoại tình, ngươi không được trộm cắp, ngươi không được làm chứng gian, ngươi phải thờ cha kính mẹ”. Sau cùng, Chúa Giêsu tóm tắt các điều răn kể trên một cách tích cực rằng: “Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình (Mt 19,16-19).
Số 2053 Chúa Giêsu còn thêm vào câu trả lời đầu tiên: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời; rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19,21). Câu trả lời này không hủy bỏ câu trả lời trước. Muốn đi theo Đức Kitô, phải tuân giữ các điều răn. Luật cũ không bị bãi bỏ, nhưng con người được mời gọi tìm thấy lại Lề luật nơi con người của Thầy mình, Đấng chu toàn Lề luật cách trọn hảo. Trong ba Tin Mừng Nhất Lãm, lời kêu gọi của Chúa Giêsu ngỏ với anh thanh niên giàu có, để đi theo Người với lòng vâng phục của người môn đệ và tuân giữ các điều răn, còn được kết hợp với lời kêu gọi sống nghèo khó và khiết tịnh 2 . Các lời khuyên Phúc Âm không thể bị tách biệt khỏi các điều răn.
Số 2054 Chúa Giêsu đã lấy lại mười điều răn, nhưng Người đã biểu lộ sức mạnh của Thần Khí đang tác động nơi các mặt chữ ấy; Người đã rao giảng sự công chính “vượt trên sự công chính của các kinh sư và những người Pharisêu” 3 , cũng như sự công chính của các dân ngoại. Người cho thấy tất cả những đòi hỏi của các điều răn. “Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng: chớ giết người... Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa" (Mt 5,21-22).
Số 2055 Khi người ta đặt cho Người câu hỏi: “Điều răn nào là điều răn trọng nhất?" (Mt 22,36), Chúa Giêsu đáp: “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi: đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Lề Luật và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,37-40) 5 . Mười Điều Răn phải được giải thích dưới ánh sáng của điều răn, tuy hai nhưng là một, là đức mến, đó là sự viên mãn của Lề Luật: “Các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại, yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13, 9-10).
Mười Điều Răn trong Thánh Kinh Số 2056 Từ “Decalogus" theo sát mặt chữ có nghĩa là “Mười lời” (Xh 34,28; Đnl 4,13; 10,4). “Mười lời” này Thiên Chúa đã mạc khải cho dân Ngài trên núi thánh. Ngài đã viết “Mười lời” này “tự ngón tay Ngài” 6 , khác với các mệnh lệnh khác do ông Môisen viết 7 . Mười lời này, theo một nghĩa rất đặc biệt, làm thành những lời của Thiên Chúa. Những lời đó được lưu truyền cho chúng ta trong sách Xuất Hành 8 và sách Đệ Nhị Luật 9 . Từ thời Cựu Ước, các Sách Thánh luôn quy chiếu về “Mười lời” 10 , nhưng trong Tân Ước ý nghĩa đầy đủ của những lời đó sẽ được mạc khải nơi Chúa Giêsu Kitô.
Số 2057 Trước hết, Mười Điều Răn phải được hiểu trong bối cảnh của cuộc Xuất Hành, là biến cố giải phóng vĩ đại của Thiên Chúa, ở trung tâm của Giao Ước cũ. Dù được viết với tính cách những mệnh lệnh tiêu cực, những cấm đoán, hay với tính cách những mệnh lệnh tích cực (như “ngươi hãy tôn kính cha ngươi và mẹ ngươi”), “Mười lời” chỉ ra những điều kiện cho một đời sống đã được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi. Mười Điều Răn là con đường của sự sống: "Anh (em) phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đi theo đường lối của Ngài, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định của Ngài, để anh (em) được sống, được thêm đông đúc” (Đnl 30,16). Sức mạnh giải thoát này của Mười Điều Răn xuất hiện, thí dụ trong điều răn nghỉ ngày sabat, áp dụng cho cả các ngoại kiều và các nô lệ: “Ngươi hãy nhớ, ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai cập, và Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ, uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó (Đnl 5,15).
Số 2058 “Mười lời” tóm tắt và công bố Lề Luật của Thiên Chúa: “Những lời ấy, Chúa đã phán với toàn thể đại hội anh em, trên núi, từ trong đám lửa, giữa mây đen mù mịt, Ngài nói lớn tiếng và không thêm gì cả. Ngài đã viết những lời ấy trên hai bia đá, và ban cho tôi (Đnl 5,22). Vì vậy, hai bia này được gọi là “Chứng Ước (Xh 25,16). Những bia đó chứa đựng các điều khoản của Giao Ước đã được ký kết giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Các “Bia Chứng Ước (Xh 31,18; 32,15; 34,29) này phải được đặt vào “Hòm Bia” (Xh 25,16; 40,1-2).
Số 2059 “Mười lời” được Thiên Chúa công bố trong một cuộc thần hiện (“Chúa đã phán với anh em, mặt đối mặt, trên núi, từ trong đám lửa”: Đnl 5,4). Mười lời này thuộc về mạc khải, Thiên Chúa tỏ cho biết về chính Ngài và về vinh quang của Ngài. Khi ban các điều răn, Thiên Chúa ban tặng chính mình Ngài và thánh ý của Ngài. Khi tỏ cho biết các thánh ý Ngài, Thiên Chúa mạc khải chính mình cho dân Ngài.
Số 2060 Việc ban tặng các điều răn và Lề Luật là thành phần của Giao Ước được ký kết bởi Thiên Chúa với dân Ngài. Theo sách Xuất Hành, việc mạc khải “Mười lời” được ban giữa việc chuẩn bị lập giao ước 11 và việc kết thúc giao ước 12 sau khi dân đã cam kết “thi hành” điều Chúa phán và “tuân phục” điều đó 13 . Mười Điều Răn chỉ được lưu truyền sau khi nhắc nhớ đến Giao Ước. (“Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã lập một Giao Ước với chúng ta tại núi Horeb": Đnl 5,2).
Số 2061 Các điều răn nhận được ý nghĩa đầy đủ của nó trong Giao Ước. Theo Thánh Kinh, cách hành động theo luân lý của con người có được đầy đủ ý nghĩa của nó trong và nhờ Giao Ước. Điều thứ nhất của “Mười lời” nhắc lại rằng chính Thiên Chúa đã yêu thương dân Ngài trước: “Chính vì hình phạt tội lỗi là sự kiện chuyển từ địa đàng của sự tự do sang tình trạng nô lệ của trần gian này, mà câu đầu tiên của Mười Điều Răn, lời thứ nhất của các lệnh truyền của Thiên Chúa, nói đến tự do: Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi Ai cập, khỏi cảnh nô lệ (Xh 20,2; Đnl 5,6)” 14 .
Số 2062 Các điều răn theo nghĩa hẹp chỉ giữ vai trò thứ yếu; chúng diễn tả những hệ luận của việc con người thuộc về Thiên Chúa như Giao Ước quy định. Đời sống luân lý là lời đáp cho khởi xướng đầy yêu thương của Chúa. Đó là sự nhận biết, sự suy phục Thiên Chúa và thờ phượng tạ ơn. Đó là sự cộng tác vào dự định mà Thiên Chúa đang theo đuổi trong lịch sử.
Số 2063 Giao Ước và cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa với con người cũng được xác nhận qua sự kiện là tất cả các bổn phận đều được phát biểu ở ngôi thứ nhất (“Ta là Chúa...”) và nói với một chủ thể khác ("Ngươi..."). Trong tất cả các điều răn của Thiên Chúa, đại từ nhân xưng ở số ít để chỉ người đón nhận. Khi bày tỏ thánh ý cho toàn dân, Thiên Chúa cũng đồng thời bày tỏ thánh ý của Ngài cho riêng từng cá nhân một: “Chúa truyền dạy phải yêu mến Thiên Chúa và dạy giữ sự công bằng đối với người lân cận, để con người khỏi bất chính và bất xứng trước mặt Thiên Chúa. Như vậy, nhờ Mười Điều Răn, Thiên Chúa huấn luyện để con người sống trong tình bằng hữu với Ngài và hoà thuận với người lân cận.... Và vì vậy, những lời của Mười Điều Răn vẫn trường tồn đối với chúng ta (các Kitô hữu), những lời đó không bị hủy bỏ, nhưng được mở rộng và triển nở nhờ cuộc Ngự đến của Chúa trong xác phàm” 15 .
Mười Điều Răn trong Truyền thống Hội Thánh Số 2064 Trung thành với Sách Thánh và theo gương Chúa Giêsu, Truyền thống Hội Thánh nhìn nhận Mười Điều Răn có tầm quan trọng và ý nghĩa hàng đầu.
Số 2065 Từ thời thánh Augustinô, “Mười Điều Răn” đã có một vị trí quan trọng trong việc dạy giáo lý cho dự tòng và tín hữu. Vào thế kỷ XV, Mười Điều Răn quen được diễn tả bằng những công thức tích cực, theo văn vần, dễ nhớ, vẫn còn thông dụng ở nhiều nơi tới ngày nay. Các sách giáo lý của Hội Thánh thường trình bày luân lý Kitô giáo theo thứ tự của “Mười Điều Răn".
Số 2066 Việc phân chia và đánh số các điều răn có thay đổi theo dòng thời gian. Sách Giáo Lý này dựa theo cách phân chia của thánh Augustinô đã trở thành truyền thống trong Hội Thánh Công giáo. Các hệ phái Luther cũng theo cách phân chia này. Các Giáo phụ Hi lạp phân chia hơi khác; cách phân chia đó còn gặp thấy trong các Giáo Hội Chính thống và các cộng đoàn Cải cách.
Số 2067 Mười Điều Răn nêu ra các đòi hỏi của lòng mến Chúa yêu người. Ba điều răn đầu đề cập đến tình yêu đối với Thiên Chúa, và bảy điều răn sau, đến tình yêu đối với người lân cận. “Cũng như Chúa đã đúc kết tất cả Lề Luật và các Tiên tri vào trong hai điều răn của lòng yêu mến..., thì cũng vậy, Mười Điều Răn được ban trong hai bảng. Ba điều được khắc trên một bảng, và bảy điều trên bảng kia" 16 .
Số 2068 Công đồng Tridentinô dạy rằng: các Kitô hữu buộc phải giữ Mười Điều Răn, và người đã được công chính hóa cũng có bổn phận phải tuân giữ các điều răn ấy 17 . Công đồng Vaticanô II cũng khẳng định: “Các Giám mục vì là những vị kế nhiệm các Tông Đồ, nhận từ nơi Chúa... sứ vụ dạy dỗ muôn dân và rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo, để mọi người được cứu độ nhờ đức tin, Phép Rửa và việc chu toàn các Điều Răn 18 .
Tính thống nhất của Mười Điều Răn Số 2069 Mười Điều Răn tạo thành một tổng thể thống nhất không thể tách biệt. Mỗi “lời” quy chiếu về từng lời và về tất cả các lời khác; các lời tương thuộc lẫn nhau. Hai Bảng Luật soi sáng cho nhau, hợp thành một tổng thể thống nhất hữu cơ. Vi phạm một điều răn là vi phạm tất cả các điều răn khác 19 . Không thể tôn trọng người khác mà không chúc tụng Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá của họ. Không thể tôn thờ Thiên Chúa mà không yêu thương tất cả mọi người là thụ tạo của Ngài. Mười Điều Răn thống nhất đời sống đối thần với đời sống xã hội của con người.
Mười Điều Răn và luật tự nhiên Số 2070 Mười Điều Răn thuộc về mạc khải của Thiên Chúa; đồng thời dạy chúng ta biết nhân tính đích thực của con người. Mười Điều Răn làm sáng tỏ những bổn phận thiết yếu, do đó, một cách gián tiếp, cho thấy những quyền căn bản gắn liền với bản tính của nhân vị. Mười Điều Răn là một cách trình bày đặc sắc của “luật tự nhiên": “Từ nguyên thủy, Thiên Chúa đã ghi sâu trong lòng người các lệnh truyền của luật tự nhiên mà nếu không thi hành thì không được cứu độ -. Sau đó Ngài chỉ cần nhắc lại các điều luật ấy cho họ. Đó chính là Mười Điều Răn” 20 .
Số 2071 Mười Điều Răn là mạc khải của Thiên Chúa, dù với lý trí con người có thể tự biết được, nhưng để hiểu biết đầy đủ và chắc chắn về các đòi hỏi của luật tự nhiên, loài người tội lỗi cần đến mạc khải này: “Trong tình trạng tội lỗi, ánh sáng lý trí bị lu mờ và ý chí bị sai lệch, con người cần đến một trình bày đầy đủ về các điều khoản của Mười Điều Răn" 21 . Chúng ta biết được các điều răn của Thiên Chúa nhờ mạc khải thần linh được trình bày trong Hội Thánh và nhờ tiếng nói của lương tâm.
Tính bắt buộc của Mười Điều Răn Số 2072 Vì nêu lên những bổn phận căn bản của con người đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận, Mười Điều Răn, trong nội dung chính yếu của nó, mạc khải những nghĩa vụ quan trọng. Mười Điều Răn, một cách căn bản, là bất biến và có giá trị bắt buộc mọi lúc và mọi nơi. Không ai có thể miễn chuẩn Mười Điều Răn, đã được Thiên Chúa ghi khắc trong trái tim con người.
Số 2073 Việc tuân phục các điều răn cũng bao hàm những bắt buộc mà theo chất liệu tự nó là nhẹ. Chẳng hạn điều răn thứ năm cấm nhục mạ kẻ khác bằng lời nói; điều này không thể là một lỗi phạm nghiêm trọng nếu không do các hoàn cảnh hoặc ý hướng của người nói lời nhục mạ đó.
“Không có Thầy, anh em không làm gì được” Số 2074 Chúa Giêsu nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Hoa trái được nói đến trong lời này là sự thánh thiện của một đời sống được sinh sôi nảy nở nhờ kết hợp với Đức Kitô. Khi chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, chúng ta truyền thông các mầu nhiệm của Người và tuân giữ các điều răn của Người, thì chính Người là Đấng Cứu Độ đến trong chúng ta để yêu thương Cha Người và các anh em Người, cũng là Cha chúng ta và các anh em chúng ta. Nhờ Thần Khí, bản thân Chúa Giêsu trở thành quy luật sống động và nội tâm cho cách hành động của chúng ta. “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 15,12).
TÓM LƯỢC Số 2075 “Tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn” (Mt 19,16-17).
Số 2076 Qua cách hành động và lời giảng dạy của Người, Chúa Giêsu đã xác nhận giá trị trường tồn của Mười Điều Răn.
Số 2077 Việc ban Mười Điều Răn được thực hiện giữa Giao Ước được Thiên Chúa ký kết với dân Ngài. Các Điều Răn của Thiên Chúa nhận được ý nghĩa đích thực của chúng trong Giao Ước và nhờ Giao Ước.
Số 2078 Trung thành với Thánh Kinh và theo gương Chúa Giêsu, Truyền thống Hội Thánh nhìn nhận Mười Điều Răn có tầm quan trọng và ý nghĩa hàng đầu.
Số 2079 Mười Điều Răn tạo thành một tổng thể thống nhất hữu cơ, trong đó mỗi “lời” hay "điều răn” đều quy chiếu về toàn thể. Vi phạm một điều răn là vi phạm toàn bộ lề luật 22 .
Số 2080 Mười Điều Răn là một cách diễn đạt đặc sắc của luật tự nhiên. Chúng ta biết được Mười Điều Răn nhờ mạc khải của Thiên Chúa và nhờ lý trí của con người.
Số 2081 Trong nội dung căn bản của chúng, Mười Điều Răn đưa ra những bắt buộc quan trọng. Tuy nhiên, việc tuân giữ các điều răn này cũng bao hàm những bắt buộc mà theo chất liệu tự nó là nhẹ.
Số 2082 Điều gì Thiên Chúa truyền dạy, Ngài đều ban ân sủng để chúng ta có thể thực hiện.
CHƯƠNG MỘT: “NGƯƠI PHẢI YÊU MẾN ĐỨC CHÚA, THIÊN CHÚA CỦA NGƯƠI, HẾT LÒNG, HẾT LINH HỒN VÀ HẾT TRÍ KHÔN NGƯƠI” Số 2083 Chúa Giêsu tóm tắt các bổn phận của con người đối với Thiên Chúa bằng giới răn này: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi (Mt 22,37) 1 . Đây là âm vang trực tiếp của lời hiệu triệu long trọng: "Nghe đây, hỡi Israel! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất (Đnl 6,4). Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Tình yêu của Thiên Chúa duy nhất được nhắc đến trong lời thứ nhất của “Mười lời”. Các điều răn sau đó giải thích câu trả lời của tình yêu mà con người được kêu gọi để đáp lại Thiên Chúa. Mục 1: Điều Răn Thứ Nhất Lời Chúa “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai cập, khỏi cảnh nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ. Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ” (Xh 20,2-5) 2 . “Đã có lời chép rằng: 'Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi và phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi” (Mt 4,10).
I. “CHÍNH ĐỨC CHÚA, THIÊN CHÚA CỦA NGƯƠI, LÀ ĐẤNG NGƯƠI PHẢI PHỤNG THỜ; CHÍNH NGÀI LÀ ĐẤNG NGƯƠI PHẢI PHỤNG SỰ” Số 2084 Thiên Chúa tự mạc khải bằng cách nhắc lại hành động đầy quyền năng, nhân hậu và giải phóng của Ngài trong lịch sử: “Ta đã đưa ngươi ra khỏi Ai cập, khỏi cảnh nô lệ” (Đnl 5,6). Lời đầu tiên chứa đựng giới răn thứ nhất của Lề luật: “Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) là Đấng anh (em) phải kính sợ, chính Ngài là Đấng anh (em) phải phụng thờ..... Anh em không được theo những thần khác (Đnl 6,13-14). Lời hiệu triệu đầu tiên và đòi hỏi chính đáng của Thiên Chúa là con người phải đón nhận và tôn thờ Ngài.
Số 2085 Thiên Chúa duy nhất và chân thật trước hết mạc khải vinh quang của Ngài cho Israel 3 . Mạc khải về ơn gọi và chân lý về con người được gắn liền với mạc khải về Thiên Chúa. Con người có ơn gọi phải biểu lộ Thiên Chúa qua cách hành động của mình, phù hợp với việc mình được tạo dựng “theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa (St 1,26): “Thưa ông Triphon, chưa bao giờ có Thiên Chúa nào khác và từ muôn đời, cũng không hề có Thiên Chúa nào khác (...) ngoài Đấng đã tạo dựng và xếp đặt vũ trụ. Chúng tôi không nghĩ rằng Thiên Chúa của chúng tôi khác với Thiên Chúa của ông. Chính Ngài là Đấng đã đưa tổ tiên ông ra khỏi đất Ai cập bằng bàn tay hùng mạnh và cánh tay giương cao. Chúng tôi không đặt hy vọng vào bất cứ vị nào khác, vì không có, nhưng vào cùng một Đấng là Thiên Chúa của ông, Thiên Chúa của các tổ phụ Abraham, Isaac và Giacob" 4 .
Số 2086 “Điều răn thứ nhất bao gồm đức tin, đức cậy và đức mến. Vì khi chúng ta nói đến Thiên Chúa, là chúng ta tuyên xưng một cách đúng đắn không sai sót, Ngài là Đấng thường hằng, bất biến, mãi mãi vẫn là chính Ngài, trung tín; do đó, khi chúng ta đón nhận các sấm ngôn của Ngài, thì cần thiết là chúng ta phải hoàn toàn tin vào Ngài và nhận biết quyền bính của Ngài. Thật vậy, ai chiêm ngắm quyền năng, lòng nhân hậu và việc thi ân giáng phúc của Ngài, mà lại có thể không đặt trọn tất cả hy vọng nơi Ngài? Và ai chiêm ngưỡng kho tàng của sự tốt lành và lòng yêu thương của Ngài, đã được tuôn đổ trên chúng ta, mà lại có thể không yếu mến Ngài? Vì vậy, cả khi khởi đầu, cả khi kết thúc các điều Ngài truyền dạy trong Thánh Kinh, Thiên Chúa dùng lời này: Ta là Chúa” 5 .
Đức tin Số 2087 Đời sống luân lý của chúng ta bắt đầu từ đức tin vào Thiên Chúa, Đấng mạc khải tình yêu của Ngài cho chúng ta. Thánh Phaolô nói đến sự vâng phục của đức tin như là nghĩa vụ hàng đầu 6 . Thánh nhân cho thấy rằng chính sự “không nhận biết Thiên Chúa” là nguyên nhân và lời giải thích cho mọi lệch lạc luân lý 7 . Bổn phận của chúng ta đối với Thiên Chúa là tin vào Ngài và làm chứng về Ngài.
Số 2088 Điều răn thứ nhất đòi hỏi chúng ta, một cách khôn ngoan và tỉnh thức, phải nuôi dưỡng và giữ gìn đức tin của chúng ta, và phải loại bỏ tất cả những gì nghịch với đức tin. Có nhiều cách phạm tội nghịch với đức tin: Cố tình nghi ngờ trong lãnh vực đức tin là tội thờ ơ hay không nhìn nhận những điều Thiên Chúa đã mạc khải và Hội Thánh dạy phải tin, là chân thật. Vô tình nghi ngờ là sự do dự khi tin, là sự khó khăn khi vượt qua những vấn nạn về đức tin hay thậm chí sự lo lắng do bóng tối của đức tin gợi lên. Sự nghi ngờ, nếu được cổ võ cách có chủ ý, có thể dẫn tới sự mù quáng của tâm trí.
Số 2089 Sự vô tín là thờ ơ với chân lý mạc khải hay cố tình từ chối chấp nhận chân lý đó. “Lạc giáo là ngoan cố chối bỏ một chân lý phải tin với đức tin đối thần và Công giáo hoặc ngoan cố hồ nghi về chân lý ấy sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội; bội giáo là chối bỏ toàn bộ đức tin Kitô giáo; ly giáo là từ chối vâng phục Đức Giáo Hoàng hoặc từ chối hiệp thông với các chi thể của Hội Thánh thuộc quyền ngài” 8 .
Đức cậy Số 2090 Khi Thiên Chúa tự mạc khải và kêu gọi con người, con người không thể đáp lại trọn vẹn tình yêu thần linh bằng sức riêng mình. Họ phải trông cậy, Thiên Chúa sẽ ban cho họ khả năng để yêu lại Ngài và khả năng để hành động theo các giới răn của đức mến. Đức cậy là sự mong đợi đầy tin tưởng sự chúc lành của Thiên Chúa và sự vinh phúc hưởng kiến Thiên Chúa; đức cậy cũng là việc sợ xúc phạm đến tình yêu của Thiên Chúa và sợ bị trừng phạt.
Số 2091 Điều răn thứ nhất cũng nhắm đến các tội nghịch với đức cậy, là sự ngã lòng và sự tự phụ: Bằng sự ngã lòng, con người không còn hy vọng Thiên Chúa sẽ ban ơn cứu độ cho mình, không còn hy vọng những sự trợ giúp để mình đạt tới ơn cứu độ, hay không còn hy vọng ơn tha thứ các tội lỗi của mình. Điều này nghịch với sự tốt lành của Thiên Chúa, nghịch với sự công chính của Ngài – bởi vì Thiên Chúa luôn trung tín với các lời hứa của Ngài, và nghịch với lòng thương xót của Ngài.
Số 2092 Có hai loại tự phụ. Hoặc con người quá cậy dựa vào các khả năng của mình (hy vọng mình có thể được cứu độ mà không cần sự trợ giúp của ơn trên), hoặc ỷ lại vào sự toàn năng và lòng thương xót của Thiên Chúa (hy vọng sẽ đạt được ơn tha thứ của Ngài mà không cần hối cải và đạt tới vinh quang của Ngài mà không cần lập công).
Đức mến Số 2093 Đức tin vào tình yêu Thiên Chúa bao hàm ơn gọi và sự bắt buộc phải đáp lại tình yêu của Thiên Chúa bằng một đức mến chân thành. Điều răn thứ nhất dạy chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, và yêu mến mọi thụ tạo nhờ Ngài và vì Ngài 9 .
Số 2094 Người ta có thể phạm tội nghịch với tình yêu Thiên Chúa bằng nhiều cách: sự lãnh đạm là tội thờ ơ hay từ chối không quan tâm đến tình yêu của Thiên Chúa, không công nhận tình yêu đó luôn đi bước trước và phủ nhận sức mạnh của tình yêu đó. Sự vô ơn là tội quên lãng hay từ chối nhận biết tình yêu của Thiên Chúa và quên lãng hay từ chối đáp lại tình yêu này bằng tình yêu của mình. Sự nguội lạnh là tội do dự hay thờ ơ trong việc đáp lại tình yêu của Thiên Chúa, cũng có thể bao hàm sự từ chối dấn thân theo đức mến. Sự lười biếng hay uể oải về mặt thiêng liêng có thể đưa tới sự từ khước niềm vui xuất phát từ Thiên Chúa và khinh chê sự thiện hảo của Thiên Chúa. Sự căm ghét Thiên Chúa là do kiêu ngạo, chống lại tình yêu của Ngài, phủ nhận sự tốt lành của Ngài và cố ý nguyền rủa Thiên Chúa, Đấng cấm các tội lỗi và đặt ra các hình phạt.
II. “NGƯƠI PHẢI THỜ PHƯỢNG MỘT MÌNH NGÀI MÀ THÔI” Số 2095 Các nhân đức đối thần “tin, cậy, mến” định hình và đem lại sức sống cho các nhân đức luân lý. Như vậy, đức mến đưa dẫn chúng ta đến chỗ trả lại cho Thiên Chúa điều mà, vì là các thụ tạo, chúng ta mắc nợ Ngài theo đức công bằng. Nhân đức thờ phượng giúp chúng ta sống tâm tình này.
Thờ lạy Số 2096 Hành vi đầu tiên của nhân đức thờ phượng là thờ lạy. Thờ lạy Thiên Chúa, nghĩa là nhận biết Ngài là Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hoá và Cứu Độ, là Chúa và Chúa tể của mọi loài đang hiện hữu, là Tình Yêu vô biên và hay thương xót. Dựa vào sách Đệ Nhị Luật (Đnl 6,13), Chúa Giêsu nói: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi (Lc 4,8).
Số 2097 Thờ lạy Thiên Chúa là tôn kính và tuyệt đối quy phục Ngài vì nhận biết “tính hư vô của thụ tạo , nghĩa là thụ tạo không thể hiện hữu nếu không bởi Thiên Chúa. Thờ lạy Thiên Chúa là ca ngợi Ngài, như Đức Maria trong kinh "Magnificat" ("Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa”), là chúc tụng Ngài, hạ mình khiêm tốn tuyên xưng với lòng biết ơn rằng Thiên Chúa đã làm những việc trọng đại và Danh Ngài chí thánh 10 . Việc thờ lạy Thiên Chúa duy nhất giải thoát con người khỏi thái độ tự khép kín, khỏi ách nô lệ tội lỗi và khỏi tội thờ ngẫu tượng là trần gian.
Cầu nguyện Số 2098 Các hành vi tin, cậy, mến, mà điều răn thứ nhất truyền dạy, được chu toàn trong kinh nguyện. Nâng tâm hồn lên tới Thiên Chúa là cách diễn tả việc chúng ta thờ lạy Ngài: lời kinh ca ngợi và tạ ơn, lời kinh chuyển cầu và cầu xin. Cầu nguyện là điều kiện hết sức cần thiết để có thể tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí (Lc 18,1).
Hy lễ Số 2099 Là điều chính đáng, việc dâng lên Thiên Chúa những hy lễ với tính cách là dấu chỉ của việc thờ lạy và tạ ơn, khẩn cầu và hiệp thông: “Mọi công việc được thực hiện để được gắn bó với Thiên Chúa trong sự hiệp thông thánh thiện và như vậy chúng ta có thể được hạnh phúc, đều là hy lễ đích thực 11 .
Số 2100 Hy lễ bên ngoài, để có thể là hy lễ thật, phải là sự diễn tả của hy lễ tinh thần: “Tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát ..." (Tv 51,19). Các tiên tri thời Giao Ước cũ thường tố cáo các hy lễ được thực hiện mà không có sự tham dự nội tâm 12 hay không được liên kết với tình yêu đối với người lân cận 13 . Chúa Giêsu nhắc lại lời của tiên tri Osê: "Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế (Mt 9,13; 12,7) 14 . Chỉ có một hy lễ trọn hảo duy nhất là hy lễ Đức Kitô đã dâng trên thập giá, bằng sự tận hiến cho tình yêu của Chúa Cha và để cứu độ chúng ta 15 . Khi chúng ta kết hợp mình với hy lễ của Người, chúng ta có thể biến cuộc đời mình thành hy lễ dâng lên Thiên Chúa.
Các lời hứa và lời khấn Số 2101 Trong nhiều hoàn cảnh, Kitô hữu được kêu gọi để tuyên các lời hứa với Thiên Chúa. Các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức, Hôn Phối và Truyền Chức Thánh luôn kèm theo những lời hứa. Do lòng đạo đức cá nhân, Kitô hữu cũng có thể hứa với Thiên Chúa để thực hiện một hành vi, một kinh nguyện, việc bố thí, việc hành hương, v.v.... Việc trung thành tuân giữ các lời đã hứa với Thiên Chúa chứng tỏ sự tôn trọng đối với uy linh Thiên Chúa và đối với tình yêu dâng lên Thiên Chúa hằng trung tín.
Số 2102 “Lời khẩn tức là lời hứa, có suy nghĩ và tự do, với Thiên Chúa về một điều thiện khả thi và tốt hơn; vì thuộc về nhân đức thờ phượng, lời khẩn phải được thực hiện” 16 . Lời khấn là một hành vi đạo đức, nhờ đó Kitô hữu tự hiến cho Thiên Chúa hay hứa thực hiện một điều thiện dâng kính Ngài. Vì vậy, bằng việc chu toàn các lời khấn của mình, họ dâng lên Thiên Chúa điều họ đã hứa và đã được thánh hiến cho Ngài. Sách Công Vụ Tông Đồ cho chúng ta thấy thánh Phaolô lo lắng chu toàn những điều ngài đã khấn 17 .
Số 2103 Hội Thánh công nhận giá trị gương mẫu của những lời khấn sống theo các lời khuyên Phúc Âm 18 . “Hội Thánh là Mẹ chúng ta, vui mừng khi thấy trong lòng mình có nhiều con cái nam nữ muốn theo sát hơn và tỏ lộ cách rõ ràng sự tự hủy của Đấng Cứu Độ, khi chấp nhận sự nghèo khó trong sự tự do của con cái Thiên Chúa và từ bỏ ý riêng: họ tự nguyện tùng phục một con người vì Thiên Chúa trong vấn đề nên trọn lành, hơn cả mức đòi buộc của giới răn, hầu nên giống cách trọn vẹn hơn với Đức Kitô, Đấng vâng phục” 19 . Trong một số trường hợp, Hội Thánh có thể miễn chuẩn những lời khấn và lời hứa, vì những lý do tương xứng 20 .
Bổn phận xã hội về tôn giáo và quyền tự do tôn giáo Số 2104 “Mọi người đều buộc phải đi tìm chân lý, đặc biệt là những gì liên quan tới Thiên Chúa và Hội Thánh của Ngài. Khi đã nhận ra chân lý, họ phải tiếp nhận và trung thành tuân giữ 21 . Bổn phận này xuất phát từ “chính bản tính của con người” 22 . Bổn phận này không mâu thuẫn với sự chân thành tôn trọng các tôn giáo khác “thường cũng mang lại những tia sáng của chân lý đang chiếu soi cho mọi người” 23 và cũng không mâu thuẫn với đức mến đang thúc bách các Kitô hữu “phải xử sự cách yêu thương, khôn ngoan, kiên nhẫn đối với những ai còn lầm lạc hay thiếu hiểu biết về vấn đề đức tin” 24 .
Số 2105 Bổn phận phải dành cho Thiên Chúa sự tôn thờ đích thực liên quan đến con người xét theo cá nhân cũng như xã hội. Đây là “đạo lý truyền thống công giáo về bổn phận luân lý của con người và của xã hội đối với tôn giáo thật và Hội Thánh duy nhất của Đức Kitô 25 . Khi không ngừng loan báo Tin Mừng cho con người, Hội Thánh cố gắng làm sao để con người “có thể làm cho tinh thần Kitô giáo thấm nhuần vào các tâm trí, phong tục, luật lệ và cơ cấu của cộng đoàn nơi họ sống 26 . Bổn phận xã hội của các Kitô hữu là tôn trọng và khơi dậy nơi mỗi người tình yêu đối với chân lý và điều thiện hảo. Bổn phận này buộc họ phải truyền bá nền phượng tự của tôn giáo duy nhất và chân thật, đang tồn tại trong Hội Thánh công giáo và tông truyền 27 . Kitô hữu được mời gọi trở thành ánh sáng thế gian 28 . Nhờ đó, Hội Thánh bày tỏ vương quyền của Đức Kitô trên vạn vật, đặc biệt là trên các xã hội loài người 29 .
Số 2106 “Trong vấn đề tôn giáo, không ai bị ép buộc phải hành động trái với lương tâm mình, cũng như không bị ngăn trở, để hành động theo lương tâm cách riêng tư hay công khai, hoặc một mình hoặc chung với những người khác, trong những giới hạn họ được phép” 30 . Quyền này đặt nền trên chính bản tính của nhân vị, mà phẩm giá của họ cho họ được tự do để gắn bó với chân lý thần linh, một chân lý siêu việt trên trật tự trần thế. Do đó, quyền này “vẫn tồn tại cả nơi những người không thực hiện nghĩa vụ tìm kiếm và gắn bó với chân lý” 31 .
Số 2107 “Nếu vì những hoàn cảnh đặc biệt, như trong một số dân tộc hiện nay, một tôn giáo nào đó được luật pháp nhà nước nhìn nhận cách đặc biệt, thì cần thiết là, đồng thời, mọi người vẫn phải công nhận và tôn trọng quyền tự do tôn giáo của mọi công dân cũng như của những cộng đồng tôn giáo khác" 32 .
Số 2108 Quyền tự do tôn giáo không phải là sự cho phép về mặt luân lý để gắn bó với điều sai lạc 33 cũng không là quyền được sai lạc 34 , nhưng đây là quyền tự nhiên của nhân vị, quyền được tự do theo dân luật, nghĩa là, được chính quyền bảo vệ khỏi những áp lực bên ngoài, trong vấn đề tôn giáo, trong những giới hạn chính đáng. Quyền tự nhiên này phải được luật pháp xã hội công nhận, phải là một quyền công dân 35 .
Số 2109 Quyền tự do tôn giáo, tự bản chất của nó, không thể là vô giới hạn 36 , cũng không thể bị giới hạn chỉ vì lý do “trật tự công cộng được quan niệm theo cách “duy thực nghiệm” hay “duy tự nhiên” 37 . “Những giới hạn chính đáng gắn liền với quyền tự do tôn giáo cho mỗi hoàn cảnh xã hội, phải được xác định bởi sự khôn ngoan chính trị, theo những đòi hỏi của công ích và được quyền bính dân sự xác nhận “theo những quy tắc pháp lý, phù hợp với trật tự luân lý khách quan 38 .
III. “NGƯƠI KHÔNG ĐƯỢC CÓ THẦN NÀO KHÁC ĐỐI NGHỊCH VỚI TA" Số 2110 Điều răn thứ nhất cấm tôn kính những thần khác ngoài Chúa duy nhất, Đấng đã tự mạc khải cho dân Ngài. Điều răn này cấm sự mê tín và thái độ vô đạo. Sự mê tín, một cách nào đó, là sự thái quá một cách lệch lạc về tôn giáo. Vô đạo là một thiếu sót nghịch với nhân đức thờ phượng.
Mê tín Số 2111 Mê tín là sự lệch lạc trong cảm thức tôn giáo và trong cách thể hiện cảm thức này. Mê tín cũng có thể xảy ra ngay trong việc thờ phượng Thiên Chúa chân thật, chẳng hạn như gán một ý nghĩa ma thuật cho một số thực hành vốn chính đáng hay cần thiết. Nếu cho rằng chỉ cần đọc các lời kinh hay làm các dấu chỉ bí tích là có hiệu quả, bất chấp những tâm tình phải có bên trong, là người ta rơi vào mê tín 39 .
Thờ ngẫu tượng Số 2112 Điều răn thứ nhất lên án sự đa thần. Điều răn này đòi hỏi con người không được tin vào thần nào khác ngoài Thiên Chúa, không được tôn kính các thần linh nào khác ngoài Đấng duy nhất. Thánh Kinh luôn nhắc nhở phải từ bỏ các ngẫu tượng “chỉ là vàng bạc, chỉ do tay người thế tạo thành”, “có mắt có miệng, không nhìn không nói .... Các ngẫu tượng là hão huyền nên ai thờ ngẫu tượng sẽ trở thành hão huyền: “Kẻ làm ra hoặc tin ở tượng thần, cũng giống như chúng vậy” (Tv 115,4-5.8) 40 . Trái lại, Thiên Chúa là “Thiên Chúa Hằng Sống (Gs 3,10) 41 , Đấng làm cho sống và can thiệp vào lịch sử.
Số 2113 Thờ ngẫu tượng không phải chỉ là những việc thờ phượng sai lạc của dân ngoại. Nó còn là cám dỗ thường xuyên đối với đức tin. Thờ ngẫu tượng cốt tại việc thần thánh hoá những gì không phải là Thiên Chúa. Thờ ngẫu tượng là khi con người tôn thờ và kính bái một thụ tạo thay vì Thiên Chúa, cho dù đó là thần linh hay ma quỷ (chẳng hạn đạo thờ Satan), quyền lực, khoái lạc, chủng tộc, tổ tiên, Nhà Nước, tiền bạc, v.v.... Chúa Giêsu dạy: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được (Mt 6,24). Rất nhiều vị tử đạo đã chết vì không chịu thờ lạy “Con Thú” 42 , dù chỉ giả vờ thôi. Thờ ngẫu tượng là khước từ quyền chủ tể duy nhất của Thiên Chúa; vì vậy, nó không thể đi đôi với sự hiệp thông với Thiên Chúa 43 .
Số 2114 Đời sống con người được thống nhất trong việc tôn thờ Đấng duy nhất. Điều răn dạy tôn thờ Chúa duy nhất đơn giản hoá con người và cứu họ khỏi sự phân tán vô hạn. Thờ ngẫu tượng là sự lệch lạc của cảm thức tôn giáo, một cảm thức vốn bẩm sinh nơi con người. Người thờ ngẫu tượng là người “gán ý niệm bất diệt về Thiên Chúa cho bất cứ thứ gì không phải là Thiên Chúa" 44 .
Bói toán và ma thuật Số 2115 Thiên Chúa có thể mạc khải tương lai cho các Tiên tri hay các Thánh khác của Ngài. Tuy vậy, thái độ đúng đắn của Kitô hữu cốt tại việc phó thác mình một cách đầy tin tưởng trong tay Chúa Quan Phòng về những gì liên quan đến tương lai, và từ bỏ mọi thứ tò mò không lành mạnh về vấn đề này. Tuy nhiên, không biết tiên liệu lại có thể là một sự thiếu trách nhiệm.
Số 2116 Phải loại bỏ mọi hình thức bói toán: cậy nhờ Satan hay ma quỷ, gọi hồn người chết hay những thực hành khác, là những việc người ta nghĩ cách sai lầm rằng sẽ “vén mở” được tương lai 45 . Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải mộng, xin xăm, bói toán quá khứ vị lai, đồng bóng, là những hình thức biểu lộ ý muốn thống trị thời gian, lịch sử và cuối cùng là con người, và đồng thời, biểu lộ ước muốn liên minh với các thế lực bí ẩn. Những điều này là nghịch lại với sự cung kính và tôn trọng, được kết hợp với sự kính sợ đầy yêu mến, mà chúng ta phải dành cho một mình Thiên Chúa mà thôi.
Số 2117 Các thực hành ma thuật hay pháp thuật mà người ta muốn dùng để chế ngự các sức mạnh bí ẩn, bắt chúng phục vụ mình và nắm được quyền lực siêu phàm trên người khác dù là để chữa bệnh – đều nghịch lại nhân đức thờ phượng cách nghiêm trọng. Các việc này càng đáng lên án hơn, khi có dụng ý làm hại người khác, hay cậy nhờ đến sự can thiệp của ma quỷ. Mang bùa cũng là điều đáng trách. Chiêu hồn thường gồm các thực hành bói toán hay ma thuật. Hội Thánh cũng khuyên các tín hữu phải xa lánh việc đó. Khi dùng các phương thuốc, gọi là gia truyền, không được kêu cầu các quyền lực sự dữ, cũng không được lợi dụng sự cả tin của những người khác.
Vô tôn giáo Số 2118 Điều răn thứ nhất của Thiên Chúa kết án những tội chính yếu của sự vô tôn giáo: hành động thử thách Thiên Chúa bằng lời nói hay việc làm, sự phạm thánh và sự mại thánh.
Số 2119 Hành động thử thách Thiên Chúa là dùng lời nói hay việc làm để thử sự tốt lành và sự toàn năng của Thiên Chúa. Đây là điều Satan muốn thấy nơi Chúa Giêsu, khi xúi giục Người gieo mình từ trên nóc Đền Thờ xuống, và qua cử chỉ đó, ép buộc Thiên Chúa phải hành động 46 . Chúa Giêsu dùng Lời Thiên Chúa đối lại nó: “Anh em đừng thách thức Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em" (Đnl 6,16). Thách đố, hàm chứa một sự thử thách như vậy, làm tổn thương lòng tôn kính và tin tưởng mà chúng ta phải dành cho Đấng Tạo Hoá và là Chúa của chúng ta. Thử thách Thiên Chúa luôn hàm chứa thái độ hoài nghi về tình yêu của Ngài, sự quan phòng và quyền năng của Ngài 47 .
Số 2120 Sự phạm thánh là sự xúc phạm hay có thái độ bất xứng đối với các bí tích và các hành động phụng vụ khác, và cả đối với các người, các đồ vật và các nơi đã thánh hiến cho Thiên Chúa. Sự phạm thánh là một tội nghiêm trọng, đặc biệt khi phạm đến bí tích Thánh Thể, bởi vì trong bí tích này, chính Mình Thánh Đức Kitô hiện diện một cách theo bản thể với chúng ta 48 .
Số 2121 Sự mại thánh được định nghĩa là mua hay bán những thực tại thiêng liêng. Khi phù thủy Simon muốn mua quyền năng thiêng liêng mà ông thấy đang hoạt động nơi các Tông Đồ, thánh Phêrô đã trả lời: “Tiền bạc của anh tiêu tan luôn với anh cho rồi, vì anh tưởng có thể lấy tiền mà mua ân huệ của Thiên Chúa” (Cv 8,20). Như thế, vị Tông Đồ đã hành động phù hợp với lời Chúa Giêsu: "Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy 50 (Mt 10,8). Không thể chiếm lấy những của cải thiêng liêng cho mình và tuỳ ý sử dụng chúng như sở hữu chủ hay ông chủ của chúng, bởi vì những điều đó xuất phát từ nguồn mạch là Thiên Chúa. Con người chỉ có thể đón nhận cách nhưng không từ Thiên Chúa.
Số 2122 “Ngoài những của dâng cúng do nhà chức trách có thẩm quyền ấn định, thừa tác viên không được xin gì để ban các bí tích, và luôn luôn phải liệu sao đừng để những người nghèo không được hưởng nhờ ơn các bí tích vì sự túng thiếu của mình” 51 . Thẩm quyền Hội Thánh ấn định “những của dâng cúng này theo nguyên tắc dân Kitô giáo phải cấp dưỡng cho các thừa tác viên của Hội Thánh. “Thợ thì đáng được nuôi ăn” 52 (Mt 10,10).
Vô thần Số 2123 “Có nhiều người đương thời với chúng ta không hề nhận ra hoặc khước từ cách minh nhiên tương quan mật thiết và sống động kết hợp con người với Thiên Chúa, cho nên vô thần phải được kể là một trong những vấn đề hệ trọng nhất trong thời đại này 53 .
Số 2124 Từ “vô thần” chỉ nhiều hiện tượng rất khác nhau. Hình thức thông thường là chủ nghĩa duy vật thực tiễn; chủ nghĩa này giới hạn những nhu cầu và tham vọng của mình vào không gian và thời gian. Chủ nghĩa nhân bản vô thần, một cách sai lầm, coi con người “là mục đích cho chính mình, là người duy nhất làm nên và điều khiển lịch sử riêng của mình 54 . Một hình thức khác của chủ nghĩa vô thần hiện nay muốn giải phóng con người bằng cuộc giải phóng kinh tế và xã hội; “hình thức vô thần này cho rằng tự bản chất tôn giáo ngăn cản sự giải phóng đó, vì khi nêu lên cho con người niềm hy vọng vào cuộc sống hão huyền mai hậu, tôn giáo đã làm cho họ xao lãng việc xây dựng thành đô trần thế 55 .
Số 2125 Vô thần tự nó đối nghịch với nhân đức thờ phượng, vì từ chối hay phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa. Trách nhiệm về điều này có thể được giảm thiểu nhiều ít, vì các ý hướng và hoàn cảnh. Trong việc khai sinh và phổ biến sự vô thần, “các tín hữu có thể có một phần trách nhiệm không nhỏ, tuỳ mức độ, hoặc bởi xao lãng việc giáo dục đức tin, hoặc bởi trình bày sai lạc về giáo lý, hoặc do những thiếu sót trong đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội. Phải nói rằng họ đã che giấu hơn là bày tỏ dung mạo đích thực của Thiên Chúa và của tôn giáo” 57 .
Số 2126 Vô thần thường được đặt nền trên một quan niệm không đúng về quyền tự lập của con người, đến độ phủ nhận mọi lệ thuộc vào Thiên Chúa 58 . Tuy nhiên, việc nhìn nhận Thiên Chúa không hề nghịch với phẩm giá con người, “vì phẩm giá đó được đặt nền và được kiện toàn nơi chính Thiên Chúa” 59 . Hội Thánh biết rõ “sứ điệp của mình phù hợp với những ước muốn thầm kín nhất của trái tim con người 60 .
Chủ thuyết bất khả tri Số 2127 Chủ thuyết bất khả tri có nhiều hình thức. Trong một số trường hợp, người theo chủ thuyết này không phủ nhận Thiên Chúa, mà trái lại, còn cho là có sự hiện hữu của một hữu thể siêu việt không thể tự mạc khải và không ai có thể nói được gì về hữu thể đó. Trong những trường hợp khác, người theo chủ thuyết này không đề cập đến sự hiện hữu của Thiên Chúa, vì cho rằng không thể chứng minh, xác nhận hay phủ nhận về sự hiện hữu đó.
Số 2128 Đôi khi chủ thuyết bất khả tri có thể hàm chứa một cố gắng tìm kiếm nào đó về Thiên Chúa, nhưng cũng có thể biểu hiện một sự lãnh đạm thờ ơ, chạy trốn trước vấn đề tối hậu về sự hiện hữu, và một sự lười biếng của lương tâm luân lý. Chủ thuyết bất khả tri rất thường tương đương với sự vô thần thực hành.
IV. “NGƯƠI KHÔNG ĐƯỢC LÀM CHO MÌNH BẤT CỨ HÌNH TƯỢNG NÀO VỀ THIÊN CHÚA...” Số 2129 Mệnh lệnh thần linh bao hàm việc cấm mọi hình thức trình bày Thiên Chúa bằng bàn tay con người. Sách Đệ Nhị Luật giải thích: “Anh em đã không thấy hình bóng nào, ngày Chúa phán với anh em tại núi Hôreb từ trong đám lửa; vì thế đừng có ra hư hỏng mà làm cho mình một tượng mang hình ảnh bất cứ cái gì...” (Đnl 4,15-16). Chính Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối siêu việt, đã tự mạc khải cho Israel. "Ngài là tất cả”, nhưng đồng thời, Ngài “vượt trên mọi công trình Ngài thực hiện” (Hc 43,29-30). Ngài là “tác giả của muôn vẻ đẹp” (Kn 13,3).
Số 2130 Tuy nhiên, trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền lệnh hay cho phép làm những hình ảnh, một cách biểu tượng sẽ đưa tới ơn cứu độ nhờ Ngôi Lời nhập thể: ví dụ con rắn đồng 61 , Hòm Bia Giao Ước và các chêrubim 62 .
Số 2131 Công đồng chung thứ bảy, ở Nicêa (năm 787), dựa vào mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, đã biện minh cho việc sùng kính ảnh tượng thánh, như ảnh tượng Đức Kitô, và cả ảnh tượng Mẹ Thiên Chúa, các Thiên thần và tất cả các Thánh, chống lại những người bài ảnh tượng. Nhờ cuộc Nhập thể của mình, Con Thiên Chúa đã khai mở một “nhiệm cục” về các ảnh tượng.
Số 2132 Việc sùng kính của Kitô giáo đối với các ảnh tượng, không nghịch lại điều răn thứ nhất cấm thờ ngẫu tượng. Thật vậy, “khi tôn kính một ảnh tượng, chúng ta hướng tâm hồn lên đến nguyên ảnh” 63 , và “tôn kính một ảnh tượng là tôn kính chính vị được phác hoạ trong ảnh tượng” 64 . Đối với các ảnh tượng thánh, chúng ta chỉ tôn kính (veneratio), chứ không tôn thờ (adoratio) là việc chỉ dành cho một mình Thiên Chúa: “Sự sùng kính tôn giáo không nhắm tới các ảnh tượng vì chính chúng, như một thực tại nào đó, nhưng nhắm tới việc chúng là những hình ảnh đưa dẫn chúng ta đến cùng Thiên Chúa nhập thể. Việc tôn kính không dừng lại ở chính ảnh tượng, nhưng vươn tới điều mà ảnh tượng biểu thị 65 .
TÓM LƯỢC Số 2133 “Hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng, hết dạ, hết sức anh em" (Đnl 6,5).
Số 2134 Điều răn thứ nhất kêu gọi con người tin vào Thiên Chúa, trông cậy nơi Ngài và yêu mến Ngài trên hết mọi sự.
Số 2135 “Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4,10). Thờ lạy Thiên Chúa, kêu cầu Ngài, dâng lên Ngài việc phụng thờ xứng hợp, chu toàn các lời khấn hứa với Ngài, là những hành vi thuộc nhân đức thờ phượng, phát xuất từ sự vâng phục điều răn thứ nhất.
Số 2136 Phải dành cho Thiên Chúa việc phụng tự đích thực, là bổn phận của con người, xét theo cá nhân cũng như xã hội.
Số 2137 Con người phải có quyền tự do tuyên xưng tôn giáo cách riêng tư và cách công khai 66 .
Số 2138 Mê tín là sự lệch lạc trong việc thờ phượng phải dành cho Thiên Chúa thật. Mê tín được biểu lộ trong việc thờ ngẫu tượng, cũng như trong các hình thức bói toán và ma thuật.
Số 2139 Điều răn thứ nhất cấm các tội của sự vô tôn giáo là: hành động thử thách Thiên Chúa bằng lời nói hay việc làm, sự phạm thánh và sự mại thánh.
Số 2140 Sự vô thần, vì từ chối hay phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, là một tội nghịch với điều răn thứ nhất.
Số 2141 Việc sùng kính các ảnh tượng thánh đặt nền trên mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa. Việc đó không nghịch với điều răn thứ nhất. Mục 2: Điều Răn Thứ Hai Lời Chúa “Ngươi không được dùng danh Chúa, Thiên Chúa của ngươi một cách bất xứng" 67 (Xh 20,7). “Anh em còn nghe luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thể... còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả” (Mt 5,33-34).
I. DANH CHÚA LÀ THÁNH Số 2142 Điều răn thứ hai dạy phải tôn kính Danh Chúa. Cũng như điều răn thứ nhất, điều răn này thuộc về nhân đức thờ phượng và, một cách đặc biệt hơn, quy định việc sử dụng ngôn từ của chúng ta trong các vấn đề thánh.
Số 2143 Trong tất cả các lời mạc khải, có một lời độc đáo, đó là lời mạc khải về Danh của Chúa. Thiên Chúa trao phó Danh Ngài cho những kẻ tin vào Ngài; Ngài tự mạc khải cho họ trong mầu nhiệm bản thân Ngài. Việc ban tặng Danh Thánh thuộc lãnh vực tín nhiệm và thân thiết. "Danh Chúa là thánh”. Vì vậy, con người không thể lạm dụng Danh đó. Họ phải ghi nhớ Danh đó trong sự thinh lặng tôn thờ đầy yêu mến 68 . Chỉ được nhắc đến Danh Chúa trong lời nói của mình để chúc tụng, ca ngợi và tôn vinh Danh Chúa 69 .
Số 2144 Sự tôn kính Danh Chúa diễn tả lòng tôn kính cần phải có đối với mầu nhiệm của chính Thiên Chúa và đối với mọi thực tại thánh thiêng mà mầu nhiệm này gợi lên. Cảm thức về sự thánh thiêng thuộc nhân đức thờ phượng: “Cảm thức kính sợ và cảm thức về sự thánh thiêng có phải là những cảm thức Kitô giáo không? Không ai có thể hoài nghi cách hữu lý về vấn đề này. Đó là những cảm thức mà chúng ta có, và có một cách mãnh liệt, nếu chúng ta được chiêm ngắm Thiên Chúa uy linh. Đó là những cảm thức mà chúng ta có, nếu chúng ta ý thức sự hiện diện của Ngài. Chúng ta phải có những cảm thức đó, tùy theo mức độ chúng ta tin Ngài đang hiện diện. Không có những cảm thức đó, tức là không ý thức vấn đề này, không tin Ngài đang hiện diện” 70 .
Số 2145 Tín hữu phải làm chứng cho Danh Chúa, bằng cách tuyên xưng đức tin của mình mà không sợ sệt 71 . Việc rao giảng và dạy giáo lý phải được thấm nhuần bằng sự tôn thờ và kính trọng đối với Danh Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.
Số 2146 Điều răn thứ hai cấm lạm dụng Danh Thiên Chúa, nghĩa là mọi cách sử dụng bất xứng đối với Danh của Thiên Chúa, của Chúa Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và toàn thể các Thánh.
Số 2147 Những lời hứa với tha nhân nhân danh Thiên Chúa đều liên hệ đến danh dự, sự trung tín, sự chân thật và quyền bính thần linh. Những lời hứa đó phải được tuân giữ bởi đức công bằng. Không giữ các lời hứa đó là lạm dụng Danh Thiên Chúa, và một cách nào đó, làm cho Thiên Chúa thành kẻ nói dối 72 .
Số 2148 Nói phạm thượng vi phạm trực tiếp điều răn thứ hai. Tội này cốt tại việc nói những lời căm ghét, than trách, thách đố - trong lòng hay ngoài miệng nghịch với Thiên Chúa, việc nói xấu Thiên Chúa, việc bất kính đối với Ngài trong lời nói, và việc lạm dụng Danh Thiên Chúa. Thánh Giacôbê khiển trách: “Chẳng phải họ nói xúc phạm đến Danh Thánh cao đẹp (của Chúa Giêsu) mà anh em được mang đó sao? (Gc 2,7). Luật cấm nói phạm thượng, cũng cấm nói những lời nghịch với Hội Thánh của Đức Kitô, các Thánh và những sự thánh. Cũng là tội nói phạm thượng khi nại đến Danh Thiên Chúa để che đậy những hành vi tội ác, để bắt các dân tộc làm nô lệ, để tra tấn hoặc giết người. Lạm dụng Danh Thiên Chúa để phạm tội ác là gây cớ cho người ta khước từ tôn giáo. Nói phạm thượng là nghịch với sự tôn trọng phải có đối với Thiên Chúa và Danh thánh của Ngài. Nói phạm thượng tự bản chất là một tội nghiêm trọng 73 .
Số 2149 Kêu tên Chúa vô cớ, dù không có ý phạm thượng cũng là thiếu tôn kính đối với Chúa. Điều răn thứ hai cũng cấm sử dụng Danh Thiên Chúa vào việc ma thuật. “Danh Thiên Chúa thật cao cả, khi được kêu cầu cách tôn kính, xứng với sự vĩ đại và uy nghi của Ngài. Danh Thiên Chúa là thánh, khi được kêu cầu với lòng tôn kính và sợ xúc phạm tới Ngài” 74 .
II. KÊU DANH CHÚA CÁCH GIAN DỐI Số 2150 Điều răn thứ hai cấm thề gian. Thề là lấy Thiên Chúa làm chứng cho điều mình xác quyết, là kêu cầu sự chân thật thần linh làm bảo chứng cho sự chân thật của mình. Lời thề ràng buộc Danh Chúa. “Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải kính sợ; chính Ngài là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em sẽ nhân danh Ngài mà thề” (Đnl 6,13).
Số 2151 Việc loại trừ thói thề gian là một bổn phận đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa, với tư cách là Đấng Tạo Hoá và là Chúa, là quy luật của mọi chân lý. Lời nói của con người có thể phù hợp hay trái nghịch với Thiên Chúa, Đấng là chân lý. Lời thề, khi là chân thật và chính đáng, làm sáng tỏ mối tương quan giữa lời nói của con người với chân lý của Thiên Chúa. Lời thề gian là kêu cầu Thiên Chúa làm chứng cho sự dối trá.
Số 2152 Người bội thề là người dùng lời thề để hứa một điều gì, nhưng không có ý chu toàn lời đã hứa, hay sau khi đã dùng lời thề để hứa, lại không giữ lời hứa. Sự bội thề là lỗi phạm nghiêm trọng về lòng tôn kính đối với Chúa của mọi lời nói. Buộc mình bằng việc thề làm điều xấu là nghịch với sự thánh thiện của Danh Chúa.
Số 2153 Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã trình bày điều răn thứ hai: “Anh em còn nghe luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề nhưng hãy trọn lời thề với Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, đừng thề chi cả... Nhưng hễ ‘có' thì phải nói 'có'; 'không' thì phải nói 'không'. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,33-34.37) 75 . Chúa Giêsu dạy mọi lời thề đều bao hàm mối tương quan với Thiên Chúa, và trong mọi lời nói, phải tôn trọng sự hiện diện của Thiên Chúa và chân lý của Ngài. Cẩn trọng khi nại đến Thiên Chúa trong lời ăn tiếng nói, phải đi đôi với sự chú ý đầy tôn kính đối với sự hiện diện của Ngài: trong mỗi lời xác quyết của chúng ta, chúng ta làm chứng hoặc khinh thường sự hiện diện đó.
Số 2154 Theo gương thánh Phaolô 76 truyền thống Hội Thánh vẫn hiểu lời của Chúa Giêsu là không cấm thề nếu có lý do nghiêm trọng và chính đáng (chẳng hạn, trước tòa án). “Lời thề tức là lời kêu cầu Danh Chúa làm chứng cho chân lý, chỉ có thể được tuyên thệ trong sự thật, trong sự suy xét và trong công lý" 77 .
Số 2155 Sự thánh thiện của Danh thánh đòi buộc không được nại đến Danh đó mà làm những việc phù phiếm, và không được thề trong những hoàn cảnh có thể bị giải thích như là đồng tình với quyền lực đòi buộc thề cách bất công. Khi bị chính quyền bất hợp pháp đòi buộc phải thề, có thể từ chối. Phải từ chối thề, khi được yêu cầu thề vì những mục đích nghịch với nhân phẩm hay nghịch với sự hiệp thông trong Hội Thánh.
III. DANH HIỆU KITÔ HỮU [TÊN THÁNH] Số 2156 Bí tích Rửa Tội được ban “nhân danh Cha, Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Trong Phép Rửa, Danh Chúa thánh hóa con người, và Kitô hữu nhận được một tên riêng trong Hội Thánh. Tên này có thể là tên của một vị Thánh nào đó, nghĩa là, của một môn đệ đã sống đời trung thành mẫu mực với Chúa. Vị thánh bổn mạng nêu gương sống đức mến và luôn chuyển cầu cho ta. “Tên thánh” cũng có thể diễn tả một mầu nhiệm hay một nhân đức Kitô giáo nào đó. “Cha mẹ, những người đỡ đầu và cha sở phải liệu sao để đừng đặt tên xa lạ với ý nghĩa Kitô giáo" 78 .
Số 2157 Kitô hữu bắt đầu một ngày của mình, các kinh nguyện và hoạt động của mình bằng dấu thánh giá “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen”. Người đã chịu Phép Rửa dâng trọn vẹn ngày mình sống để tôn vinh Thiên Chúa và kêu cầu Đấng Cứu Độ ban ân sủng giúp họ hành động trong Thần Khí như một người con của Chúa Cha. Dấu thánh giá làm cho chúng ta nên mạnh mẽ trong các cơn cám dỗ và trong những khó khăn.
Số 2158 Thiên Chúa gọi từng người bằng tên của họ 79 . Tên của mỗi người là thánh thiêng. Tên là hình ảnh của nhân vị. Nó đòi hỏi được tôn trọng, như dấu chỉ phẩm giá của người mang tên đó.
Số 2159 Mỗi người sẽ mang tên của mình mãi mãi. Trong Vương quốc, phẩm chất huyền nhiệm và độc đáo của mỗi nhân vị, đã được ghi dấu bằng Danh Thiên Chúa, sẽ toả sáng trọn vẹn. “Ai thắng Ta cũng sẽ ban cho nó một viên sỏi trắng, trên sỏi đó có khắc một tên mới; chẳng ai biết được tên ấy, ngoài kẻ lãnh nhận” (Kh 2,17). “Kìa Con Chiên đứng trên núi Sion, cùng với Con Chiên, có một trăm bốn mươi bốn ngàn người mang danh của Con Chiên và của Cha Con Chiên ghi trên trán (Kh 14,1).
TÓM LƯỢC Số 2160 “Lạy Chúa, là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu” (Tv 8,2).
Số 2161 Điều răn thứ hai dạy phải tôn kính Danh Chúa. Danh Chúa là thánh.
Số 2162 Điều răn thứ hai cấm mọi lạm dụng bất xứng đối với Danh Thiên Chúa. Nói phạm thượng là tội sử dụng Danh của Thiên Chúa, của Chúa Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và các Thánh một cách xúc phạm.
Số 2163 Thề gian là kêu cầu Thiên Chúa làm chứng cho một điều dối trá. Bội thề là một lỗi phạm nghiêm trọng đối với Chúa, Đấng luôn trung tín với các lời Ngài đã hứa.
Số 2164 “Đừng thề nhân danh Đấng Tạo Hoá, cũng đừng thề nhân danh thụ tạo, trừ khi hội đủ ba điều này: ta nói lên sự thật, vì nhu cầu, và với lòng kính trọng” 80 .
Số 2165 Qua bí tích Rửa Tội, Kitô hữu nhận được một tên riêng trong Hội Thánh. Cha mẹ, người đỡ đầu và cha sở cần lưu tâm để đặt cho họ một tên Kitô giáo. Vị thánh bổn mạng nêu gương sống đức mến và luôn chuyển cầu cho ta.
Số 2166 Kitô hữu bắt đầu các kinh nguyện và hoạt động của mình bằng dấu thánh giá “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen”.
Số 2167 Thiên Chúa gọi từng người bằng tên của họ 81 . Mục 3: Điều Răn Thứ Ba Lời Chúa “Ngươi hãy nhớ ngày sabat, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày sabat kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào” (Xh 20,8-10) 82 . "Ngày sabat được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabat. Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày sabat" (Mc 2,27-28).
I. NGÀY SABAT Số 2168 Điều răn thứ ba của Mười Điều Răn nhắc nhớ sự thánh thiện của ngày sabat. “Ngày thứ bảy là một ngày sabat; một ngày nghỉ hoàn toàn, dâng Chúa” (Xh 31,15).
Số 2169 Khi nói về ngày sabat, Sách Thánh nhắc nhớ công trình tạo dựng. “Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi và muôn loài trong đó, nhưng Ngài đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Đức Chúa đã chúc phúc cho ngày sabat và coi đó là ngày thánh (Xh 20,11).
Số 2170 Trong ngày của Chúa, Sách Thánh cũng nhắc lại cuộc tưởng niệm biến cố giải phóng Israel khỏi ách nô lệ Ai cập. “Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai cập và Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó. Bởi vậy, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi cử hành ngày sabat" (Đnl 5,15).
Số 2171 Thiên Chúa ban cho Israel ngày sabat, để họ giữ làm một dấu chỉ giao ước không thể bị phá vỡ 83 . Ngày sabat được hiến dâng cho Chúa, là ngày được dành cách thánh thiện để ca ngợi Thiên Chúa, ca ngợi công trình tạo dựng của Ngài và những hành động cứu độ của Ngài dành cho Israel.
Số 2172 Cách hành động của Thiên Chúa là mẫu mực cho cách hành động của con người. Nếu Thiên Chúa “nghỉ xả hơi ngày thứ bảy (Xh 31,17), thì con người cũng phải “ngưng lao động, và cho phép để những người khác, nhất là những người nghèo, “lấy lại sức” 84 . Ngày sabat làm cho các công việc hằng ngày ngưng lại và cho tạm nghỉ ngơi. Đây là ngày phản kháng lại khía cạnh nô lệ của việc lao động và sự sùng kính tiền bạc 85 .
Số 2173 Tin Mừng thuật lại nhiều lần Chúa Giêsu bị tố cáo đã vi phạm luật ngày sabat 86 . Nhưng Chúa Giêsu không bao giờ xúc phạm sự thánh thiện của ngày này 87 . Người dùng uy quyền giải thích ý nghĩa đích thực của ngày này: “Ngày sabat được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabat" (Mc 2,27). Với lòng nhân từ, Đức Kitô cho mình thẩm quyền “làm điều lành chứ không phải điều dữ, cứu sống chứ không giết chết trong ngày sabat 88 . Ngày sabat là ngày của lòng thương xót của Thiên Chúa và là ngày tôn vinh Thiên Chúa. “Con Người làm chủ luôn cả ngày sabat" (Mc 2,28). II. NGÀY CỦA CHÚA Lời Chúa “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118,24).
Ngày Phục sinh: Công trình tạo dựng mới Số 2174 Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết vào “ngày thứ nhất trong tuần (Mc 16,2) 89 . Vì là “ngày thứ nhất”, nên ngày Phục sinh của Đức Kitô nhắc nhớ công trình tạo dựng lần thứ nhất. Vì là “ngày thứ tám” liền sau ngày sabat 90 , nên mang ý nghĩa một công trình tạo dựng mới đã được khai mở với sự Phục sinh của Đức Kitô. Đối với các Kitô hữu, ngày này trở thành ngày thứ nhất của mọi ngày, ngày lễ thứ nhất của mọi ngày lễ, ngày của Chúa (Hè kuriakè hèmera, dies dominica), ngày “Chúa nhật": “Vào ngày của mặt trời, tất cả chúng tôi tụ họp nhau, bởi vì đó là ngày thứ nhất [liền sau ngày sabat Do thái, nhưng cũng là ngày thứ nhất], ngày mà Thiên Chúa đưa vật chất ra khỏi tối tăm để tạo dựng trần gian, và bởi vì Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu Độ chúng tôi, cũng cùng ngày đó, đã sống lại từ cõi chết" 91 .
Ngày Chúa nhật - sự hoàn thành ngày sabat Số 2175 Ngày Chúa nhật khác biệt rõ ràng với ngày sabat. Đối với các Kitô hữu, các lề luật phụng vụ của ngày sabat được áp dụng vào ngày Chúa nhật là ngày tiếp nối ngày sabat mỗi tuần, xét về mặt thời gian. Trong cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, ngày Chúa nhật hoàn thành ý nghĩa thiêng liêng của ngày sabat Do thái, và loan báo sự an nghỉ muôn đời của con người trong Thiên Chúa 92 . Thật vậy, phụng tự của Lề luật đã chuẩn bị cho mầu nhiệm của Đức Kitô, và điều gì đã được thực hiện trong phụng tự đó đều phác hoạ một nét nào đó quy hướng về Đức Kitô: “Những ai sống theo luật cũ, nay đạt tới niềm hy vọng mới, họ không còn giữ ngày sabat nữa, nhưng sống theo ngày của Chúa, vì trong ngày đó đời sống chúng ta được khởi đầu nhờ Người và nhờ cái chết của Người” 93 .
Số 2176 Việc cử hành ngày Chúa nhật tuân theo quy định luân lý tự nhiên đã được ghi khắc trong trái tim con người, qua đó “quy định việc phụng tự bên ngoài dâng lên Thiên Chúa như dấu chỉ của một lợi ích chung liên quan đến mọi người” 94 . Việc phụng tự ngày Chúa nhật hoàn thành mệnh lệnh luân lý của Giao Ước cũ, lấy lại chu kỳ và tinh thần của luật đó, bằng cách hàng tuần tôn vinh Đấng Tạo Hoá và Đấng Cứu Chuộc của dân Ngài.
Thánh lễ ngày Chúa nhật Số 2177 Việc giữ ngày Chúa nhật và cử hành bí tích Thánh Thể của Chúa là trung tâm của đời sống Hội Thánh. "Theo truyền thống tông đồ, mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành trong ngày Chúa nhật, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu trong Hội Thánh toàn cầu 95 . “Và cũng phải giữ như là ngày lễ buộc chính yếu những ngày lễ Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, lễ Hiển Linh, lễ Thăng Thiên, lễ Mình và Máu Rất Thánh Đức Kitô, lễ thánh Maria Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm và lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, lễ thánh Giuse, lễ hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, và sau cùng là lễ các Thánh 96 .
Số 2178 Từ thời các Tông Đồ, các Kitô hữu đã có thói quen tập họp nhau ngày Chúa nhật 97 . Thư gửi tín hữu Do thái nhắc nhớ rằng: “Chúng ta đừng bỏ các buổi hội họp như vài người quen làm, trái lại phải khuyến khích nhau (Dt 10,25). “Truyền thống còn giữ được một bài huấn đức vẫn luôn hợp thời: “Hãy tới nhà thờ sớm, lại gần Chúa và xưng thú tội lỗi, hãy thống hối bằng kinh nguyện.... Tham dự vào phụng vụ thánh đến hết lời nguyện hiệp lễ và đừng ra về trước khi có lời giải tán... Như chúng tôi thường nói: ngày này được ban cho anh em để cầu nguyện và nghỉ ngơi. Đây là ngày Chúa đã tạo nên, ta hãy phấn khởi và mừng vui trong ngày đó 98 .
Số 2179 "Giáo xứ là một cộng đoàn Kitô hữu nhất định được thiết lập cách bền vững trong Giáo Hội địa phương, và trách nhiệm mục vụ được ủy thác cho cha sở như là chủ chăn riêng của giáo xứ ấy, dưới quyền Giám mục giáo phận” 99 . Giáo xứ là nơi mọi tín hữu có thể tập họp để cử hành bí tích Thánh Thể mỗi Chúa nhật. Giáo xứ đưa dân Kitô hữu vào sinh hoạt thông thường của đời sống phụng vụ, và tập họp họ để cử hành phụng vụ, giảng dạy cho họ giáo lý cứu độ của Đức Kitô; thực thi đức mến của Chúa trong các công việc từ thiện và huynh đệ 100 . “Bạn cũng có thể cầu nguyện ở nhà; nhưng quả thật, bạn không thể cầu nguyện như ở nhà thờ được, vì ở nhà thờ có đông người, đồng thanh kêu lên Thiên Chúa... Ở nhà thờ còn có điều hơn nữa, đó là sự đồng tâm nhất trí, có dây liên kết của đức mến và kinh nguyện của các linh mục” 101 .
Nghĩa vụ giữ ngày Chúa nhật Số 2180 Một điều răn của Hội Thánh xác định Luật của Chúa và quy định một cách cụ thể: “Các tín hữu buộc phải tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc khác” 102 . “Người nào tham dự Thánh lễ theo nghi thức Công giáo trong chính ngày lễ hoặc chiều ngày áp lễ ở bất cứ nơi nào, thì đã giữ trọn luật buộc phải tham dự Thánh Lễ” 103 .
Số 2181 Bí tích Thánh Thể ngày Chúa nhật đặt nền tảng và củng cố toàn bộ cuộc sống Kitô hữu. Vì vậy, các tín hữu bắt buộc phải tham dự thánh lễ vào các ngày lễ buộc, trừ khi được biện minh bằng một lý do quan trọng (chẳng hạn, bị bệnh, phải chăm sóc trẻ sơ sinh), hay được mục tử riêng của mình miễn chuẩn 104 . Ai cố tình vi phạm nghĩa vụ này, là phạm tội cách nghiêm trọng.
Số 2182 Việc tham dự cuộc cử hành chung bí tích Thánh Thể Chúa nhật là bằng chứng sự liên kết và trung thành với Đức Kitô và với Hội Thánh của Người. Như vậy các tín hữu chứng tỏ sự hiệp thông của mình trong đức tin và đức mến. Họ cùng nhau làm chứng cho sự thánh thiện của Thiên Chúa và cho niềm hy vọng của mình vào ơn cứu độ. Họ làm cho nhau nên vững mạnh dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Số 2183 “Nếu không thể tham dự việc cử hành Thánh Thể vì thiếu thừa tác viên có chức thánh hay vì bất cứ một lý do nghiêm trọng nào khác, tha thiết khuyên nhủ các tín hữu nên tham dự phụng vụ Lời Chúa được cử hành theo những quy định của Giám mục giáo phận, trong nhà thờ giáo xứ, nếu có, hoặc tại một nơi thánh nào khác, hoặc nên cầu nguyện trong một thời gian thích hợp, cách riêng tư hoặc với gia đình, hoặc với các nhóm gia đình, tuỳ dịp 105 .
Ngày của ân sủng – ngày ngưng lao động Số 2184 Cũng như Thiên Chúa “khi làm xong mọi công việc của Ngài, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi” (St 2,2), đời sống con người cũng được ghi dấu bằng nhịp luân chuyển giữa lao động và nghỉ ngơi. Thể chế về ngày Chúa nhật góp phần khiến mọi người được hưởng một thời gian đầy đủ để nghỉ ngơi và nhàn rỗi, điều đó cho phép họ vun trồng đời sống gia đình, văn hóa, xã hội và tôn giáo của mình 106 .
Số 2185 Ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc, các tín hữu phải tránh đừng dấn thân vào các việc lao động hay các hoạt động nào ngăn cản việc phụng tự phải dành cho Thiên Chúa, ngăn cản niềm vui riêng trong ngày của Chúa, ngăn cản việc thực thi các công việc từ thiện và ngăn cản sự thư giãn thích hợp về tinh thần cũng như về thể xác 107 . Luật nghỉ ngơi ngày Chúa nhật có thể được miễn chuẩn, khi có những nhu cầu của gia đình hay lợi ích lớn lao của xã hội. Nhưng tín hữu cũng phải coi chừng, đừng để những miễn chuẩn hợp pháp này dẫn đến những thói quen gây thiệt hại cho tôn giáo, cho cuộc sống gia đình hay cho sức khỏe. “Lòng yêu mến chân lý tìm kiếm sự nhàn rỗi thánh thiện; nhu cầu cấp thiết của lòng yêu mến sẵn sàng đón nhận khó nhọc chính đáng 108 .
Số 2186 Khi hưởng những giờ nhàn rỗi, các Kitô hữu nên nhớ đến anh chị em của mình, những người cùng có nhu cầu và quyền lợi như mình, nhưng không thể nghỉ ngơi vì nghèo khó và túng cực. Theo truyền thống đạo đức Kitô giáo, ngày Chúa nhật được dành để làm các việc lành và khiêm tốn phục vụ các bệnh nhân, các người tàn tật và các người già yếu. Các Kitô hữu cũng phải thánh hoá ngày Chúa nhật bằng cách dành thời giờ và sự chăm sóc cho gia đình mình và cho các người lân cận, là những điều khó có thể làm trong những ngày trong tuần. Ngày Chúa nhật cũng là thời gian để suy tư, thinh lặng, trau dồi văn hoá và suy niệm, những điều đó giúp cho sự tăng trưởng của đời sống nội tâm Kitô hữu.
Số 2187 Việc thánh hóa các ngày Chúa nhật và lễ trọng đòi hỏi một nỗ lực chung. Mỗi Kitô hữu phải tránh bắt những người khác, nếu không cần thiết, làm điều gì khiến họ không thể giữ ngày của Chúa. Khi các tập tục (thể thao, nhà hàng, v.v...) và các nhu cầu xã hội (các dịch vụ công cộng, v.v...) đòi buộc một số người phải lao động ngày Chúa nhật, thì mỗi người vẫn có trách nhiệm phải tìm đủ thời gian để nghỉ ngơi. Với đức tiết độ và đức mến, các tín hữu phải tránh những sự thái quá và bạo lực đôi khi nảy sinh do các cuộc giải trí tập thể. Dù có những nhu cầu cấp bách về kinh tế, công quyền vẫn phải lo cho các công dân có thời gian để nghỉ ngơi và để lo việc phụng tự thần linh. Chủ nhân cũng có bổn phận tương tự đối với các công nhân của mình.
Số 2188 Khi tôn trọng sự tự do tôn giáo và công ích của mọi người, các Kitô hữu phải cố gắng làm cho các ngày Chúa nhật và các ngày lễ của Hội Thánh được luật pháp công nhận. Họ phải nêu gương công khai cho mọi người về việc cầu nguyện, sự tôn trọng và sự vui tươi, và phải bảo vệ các truyền thống của mình như một đóng góp quý báu cho đời sống tinh thần của xã hội nhân loại. Nếu luật pháp của một nước hay những lý do khác bắt buộc phải lao động ngày Chúa nhật, thì trong ngày này, vẫn phải sống như là ngày của sự giải thoát của chúng ta, sự giải thoát khiến chúng ta được tham dự vào “hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời” (Dt 12,22-23).
TÓM LƯỢC Số 2189 “Ngươi hãy giữ ngày sabat mà coi đó là ngày thánh (Đnl 5,12). “Ngày thứ bảy là một ngày sabat, một ngày nghỉ hoàn toàn dâng cho Đức Chúa” (Xh 31,15).
Số 2190 Ngày sabat, vốn là ngày tưởng nhớ việc hoàn thành công trình tạo dựng lần thứ nhất, được thay thế bằng ngày Chúa nhật, là ngày tưởng nhớ công trình tạo dựng mới, được khai mở bằng sự Phục sinh của Đức Kitô.
Số 2191 Hội Thánh cử hành ngày Phục sinh của Đức Kitô vào ngày thứ tám, được gọi một cách xác đáng là ngày của Chúa hay ngày Chúa nhật 109 .
Số 2192 "Theo truyền thống tông đồ, mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành trong ngày Chúa nhật, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu trong Hội Thánh toàn cầu” 110 . “Các tín hữu buộc phải tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc khác 111 .
Số 2193 “Ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc khác, các tín hữu còn phải kiêng làm việc xác và những công việc gây trở ngại cho việc thờ phượng Thiên Chúa, cho niềm vui riêng trong ngày của Chúa, hoặc cho việc nghỉ ngơi cần thiết của tinh thần và thể xác 112 .
Số 2194 Thể chế về ngày Chúa nhật góp phần làm cho “mọi người có đủ thời gian nghỉ ngơi và nhàn rỗi để vun trồng đời sống gia đình, văn hóa, xã hội và tôn giáo” 113 .
Số 2195 Mỗi Kitô hữu phải tránh bắt người khác, nếu không cần thiết, làm điều gì khiến họ không thể giữ ngày Chúa nhật.
CHƯƠNG HAI: “NGƯƠI PHẢI YÊU THƯƠNG NGƯỜI LÂN CẬN NHƯ CHÍNH MÌNH” Số 2196 Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13,34). Để trả lời câu hỏi về điều răn trọng nhất, Chúa Giêsu nói: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất; ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi; điều răn thứ hai là: 'Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình'. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó (Mc 12,29-31). Thánh Phaolô Tông Đồ cũng nhắc điều này: “Ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật. Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình'. Đã yêu thương, thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13,8-10). Mục 4: Điều Răn Thứ Tư Lời Chúa “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi (Xh 20,12). “Người hằng vâng phục các ngài (Lc 2,51).
Số 2197 Điều răn thứ tư mở đầu bảng hai của Mười Điều Răn. Điều răn này nêu lên trật tự của đức mến. Thiên Chúa muốn rằng, sau Ngài, chúng ta phải tôn kính cha mẹ, là những vị chúng ta phải chịu ơn về sự sống, và là những vị đã lưu truyền cho chúng ta sự nhận biết Thiên Chúa. Chúng ta cũng buộc phải tôn kính tất cả những người được Thiên Chúa trao ban quyền bính của Ngài để mưu ích cho chúng ta.
Số 2198 Điều răn này được diễn tả bằng hình thức tích cực về những bổn phận phải chu toàn. Điều răn này loan báo những điều răn tiếp theo, liên quan đến việc phải tôn trọng cách đặc biệt sự sống, hôn nhân, của cải trần thế và lời nói. Điều răn này thiết lập một trong những nền tảng cho giáo huấn xã hội của Hội Thánh.
Số 2199 Điều răn thứ tư rõ rệt nhắm đến con cái, trong tương quan của họ với cha và mẹ họ, bởi vì đây là tương quan phổ quát nhất. Điều răn này cũng liên quan tới các quan hệ họ hàng giữa các thành viên trong gia tộc, đòi chúng ta phải tôn kính, mến yêu và biết ơn ông bà tổ tiên. Cuối cùng, điều răn này còn mở rộng tới các bổn phận của học trò đối với thầy cô, thợ với chủ, kẻ thuộc cấp đối với người chỉ huy, công dân đối với tổ quốc, và với tất cả những người điều hành, cai trị đất nước. Điều răn này bao hàm và hiểu ngầm những bổn phận của cha mẹ, người giám hộ, thầy cô, người lãnh đạo, các nguyên thủ, các nhà cầm quyền, nghĩa là tất cả những ai đang thực thi quyền bính trên người khác hay trên một cộng đồng các nhân vị.
Số 2200 Sự tuân phục điều răn thứ tư có kèm theo phần thưởng: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ để được sống lâu trên đất mà Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi” (Xh 20,12). Việc tuân giữ điều răn này đem lại, cùng với những hoa trái thiêng liêng, những lợi ích trần thế là sự an bình và thịnh vượng. Ngược lại, việc không tuân giữ điều răn này sẽ gây nhiều thiệt hại lớn lao cho các cộng đồng và các nhân vị.
I. GIA ĐÌNH TRONG KẾ HOẠCH CỦA THIÊN CHÚA Bản chất của gia đình Số 2201 Cộng đồng phu phụ được thiết lập do sự ưng thuận của đôi phối ngẫu. Hôn nhân và gia đình được sắp xếp hướng về thiện ích của đôi phối ngẫu, về việc sinh sản và giáo dục con cái. Tình yêu của đôi phối ngẫu và việc sinh sản con cái tạo ra những tương quan cá vị và những trách nhiệm hàng đầu, giữa các phần tử trong gia đình.
Số 2202 Người nam và người nữ kết hợp với nhau trong hôn nhân, cùng với con cái họ, tạo thành một gia đình. Thể chế này đi trước mọi công nhận của công quyền; hơn nữa công quyền phải nhìn nhận thể chế này. Gia đình sẽ được coi như điểm quy chiếu thông thường căn cứ theo đó mà đánh giá các hình thức khác của liên hệ gia tộc.
Số 2203 Khi tạo dựng người nam và người nữ, Thiên Chúa đã thiết lập gia đình con người và đặt nền tảng căn bản cho gia đình. Các phần tử trong gia đình là những nhân vị bình đẳng về phẩm giá. Vì công ích của các phần tử trong gia đình và của xã hội, gia đình có những trách nhiệm, quyền lợi và bổn phận đa dạng.
Gia đình Kitô giáo Số 2204 “Gia đình Kitô giáo bày tỏ và thể hiện một cách đặc biệt sự hiệp thông trong Hội Thánh, vì lẽ đó... phải được gọi là một Hội Thánh tại gia”. Gia đình Kitô giáo là một cộng đoàn đức tin, đức cậy và đức mến; gia đình có một tầm quan trọng độc đáo trong Hội Thánh, như thấy rõ trong Tân Ước.
Số 2205 Gia đình Kitô giáo là sự hiệp thông giữa các nhân vị, là dấu vết và hình ảnh của sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần. Hoạt động sinh sản và giáo dục của gia đình là phản ánh công trình tạo dựng của Chúa Cha. Gia đình được kêu gọi tham dự vào việc cầu nguyện và hy lễ của Đức Kitô. Việc cầu nguyện hằng ngày và việc đọc Lời Chúa củng cố gia đình trong đức mến. Gia đình Kitô giáo có sứ vụ loan báo Tin Mừng và truyền giáo.
Số 2206 Các tương quan trong gia đình mang lại sự đồng cảm về cảm xúc, tình cảm, và tình nghĩa, chủ yếu phát xuất từ sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nhân vị. Gia đình là một cộng đồng ưu việt được kêu gọi để thực hiện một kế hoạch chung của đôi phối ngẫu và sự cộng tác chu đáo của cha mẹ trong việc giáo dục con cái.
II. GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI Số 2207 Gia đình là tế bào nguyên thuỷ của đời sống xã hội. Gia đình là một xã hội tự nhiên, trong đó, người nam và người nữ được kêu gọi trao tặng bản thân mình trong tình yêu và trong việc trao tặng sự sống. Quyền bính, sự bền vững và sự sống của các tương quan trong gia đình làm nên các nền tảng cho sự tự do, sự an toàn và tình huynh đệ trong xã hội. Gia đình là một cộng đồng, trong đó, từ thời thơ ấu, con người có thể học được những giá trị luân lý, bắt đầu tôn thờ Thiên Chúa và sử dụng sự tự do một cách đúng đắn. Đời sống gia đình là khởi điểm của đời sống xã hội.
Số 2208 Gia đình phải sống thế nào để các thành viên của gia đình học biết quan tâm và biết đảm nhận việc chăm sóc những người trẻ và những người già, người đau yếu, người khuyết tật và người nghèo khổ. Nhiều gia đình nhiều khi không có khả năng mang lại sự trợ giúp này. Lúc đó, việc cung cấp những nhu cầu này thuộc về những người khác, những gia đình khác và, theo nguyên tắc bổ trợ, thuộc về xã hội: “Có lòng đạo đức tinh tuyền và không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa Cha, là thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian" (Gc 1,27).
Số 2209 Gia đình phải được giúp đỡ và bảo vệ bằng những biện pháp xã hội thích hợp. Nơi nào các gia đình không đủ khả năng chu toàn các nhiệm vụ của mình, thì các tổ chức xã hội khác có bổn phận trợ giúp các gia đình đó và nâng đỡ thể chế gia đình. Theo nguyên tắc bổ trợ, những cộng đồng lớn hơn phải lưu ý để không tiếm quyền các gia đình đó, cũng không xen vào đời sống của họ.
Số 2210 Tầm quan trọng của gia đình đối với đời sống và sự an sinh của xã hội bao hàm trách nhiệm đặc biệt của xã hội trong việc nâng đỡ và củng cố hôn nhân và gia đình. Chính quyền dân sự phải coi đây là một bổn phận quan trọng, là “nhận biết, bảo vệ và củng cố phẩm chất đích thực của hôn nhân và gia đình, là bảo vệ nền luân lý công cộng, và cổ võ sự thịnh vượng của gia đình”.
Số 2211 Cộng đồng chính trị có bổn phận tôn trọng, trợ giúp và nhất là bảo đảm cho gia đình có được các quyền sau đây: Quyền tự do lập gia đình, quyền sinh con cái và giáo dục chúng theo những xác tín luân lý và tôn giáo của mình; Quyền bảo toàn sự vững bền của dây liên kết phu phụ và thể chế gia đình; Quyền tự do tuyên xưng đức tin, lưu truyền và giáo dục đức tin cho con cái bằng những phương tiện và thể chế cần thiết; Quyền tư hữu, tự do kinh doanh, có việc làm, có nhà ở, quyền di cư; Quyền được chăm sóc y tế, trợ cấp tuổi già, phụ cấp gia đình, theo thể chế của quốc gia; Quyền được bảo vệ về an ninh và cuộc sống lành mạnh, nhất là tránh các nguy cơ như xì ke ma túy, sự khiêu dâm, thói nghiện rượu, v.v.... Quyền tự do liên kết với các gia đình khác để lập các hiệp hội và như thế, được có đại diện trước các quyền bính dân sự.
Số 2212 Điều răn thứ tư làm sáng tỏ các tương quan khác trong xã hội: Anh chị em ruột, là con cái của cha mẹ chúng ta; anh chị em họ, là con cháu của tổ tiên chúng ta; đồng bào là con cái của tổ quốc chúng ta; những người đã chịu Phép Rửa là con cái của Mẹ chúng ta là Hội Thánh; mỗi nhân vị là con trai hoặc con gái của Đấng muốn chúng ta gọi Ngài là “Cha chúng con”. Vì vậy, các tương quan của chúng ta với tha nhân được nhận biết như là những tương quan nhân vị. Người lân cận không phải là một “cá thể” nào đó giữa tập thể nhân loại, nhưng là “một ai đó”, có nguồn gốc rõ ràng, đáng được mọi người quan tâm và tôn trọng.
Số 2213 Các cộng đồng nhân loại do các cá vị họp lại mà thành. Việc quản trị tốt các cộng đồng này không chỉ giới hạn trong việc bảo đảm các quyền, và việc chu toàn các bổn phận, mà cả sự trung tín với các khế ước. Những tương quan công bằng giữa chủ với thợ, giữa nhà cầm quyền với các công dân, giả thiết phải có lòng nhân hậu tự nhiên xứng hợp với phẩm giá của các nhân vị, là những người quan tâm đến sự công bằng và tình huynh đệ.
III. BỔN PHẬN CỦA CÁC PHẦN TỬ TRONG GIA ĐÌNH Bổn phận của con cái Số 2214 Tình phụ tử thần linh là nguồn mạch của tình phụ tử nhân loại; chính tình phụ tử đó đặt nền tảng cho việc tôn kính cha mẹ. Lòng tôn kính của con cái, còn nhỏ hay đã trưởng thành, đối với cha và mẹ mình được nuôi dưỡng bằng tình cảm tự nhiên xuất phát từ mối dây kết hợp họ. Lòng tôn kính đó được đòi buộc bởi một điều răn của Thiên Chúa.
Số 2215 Lòng tôn kính cha mẹ (lòng hiếu thảo) dựa trên sự biết ơn đối với những người, bằng việc trao ban sự sống, bằng tình yêu và công lao của mình, đã sinh ra các con cái mình, giúp chúng có khả năng lớn lên về tuổi tác, về sự khôn ngoan và ân sủng. "Cha con, con hãy hết lòng tôn kính, và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau. Hãy luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, công ơn ấy, con sẽ lấy chi đáp đền cho cân xứng? (Hc 7,27-28).
Số 2216 Lòng hiếu thảo được bày tỏ qua sự ngoan ngoãn và vâng phục chân thành. “Hỡi con, lệnh cha con truyên, hãy lo tuân giữ; lời mẹ con dạy, chớ bỏ ngoài tai... Những lời đó sẽ hướng dẫn con lúc con tới lui, sẽ giữ gìn con khi con nằm xuống, sẽ cùng con chuyện trò khi con thức dậy” (Cn 6,20-22). “Con khôn giữ lời cha nghiêm huấn, kẻ nhạo báng chẳng nghe lời sửa dạy” (Cn 13,1).
Số 2217 Bao lâu còn chung sống với cha mẹ, con cái phải tuân giữ mọi điều cha mẹ dạy liên quan đến lợi ích bản thân hoặc của gia đình. “Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa” (Cl 3,20). Con cái cũng phải vâng theo những lời dạy bảo hữu lý của những người giáo dục chúng, và của những người cha mẹ đã giao phó chúng cho họ chăm sóc. Nhưng nếu người con theo lương tâm, thấy vâng theo một lệnh truyền nào đó là làm điều xấu về mặt luân lý, thì không được vâng lời. Khi trưởng thành, con cái vẫn phải tôn kính cha mẹ. Con cái phải biết đón trước những điều cha mẹ mong muốn, sẵn sàng hỏi ý kiến và đón nhận những lời khuyên bảo chính đáng của cha mẹ. Sự vâng lời của con cái đối với cha mẹ ngưng khi con cái không còn sống chung với cha mẹ nữa, nhưng lòng tôn kính thì không như thế, mà phải tồn tại luôn mãi. Thật ra, lòng tôn kính này có gốc rễ từ lòng kính sợ Thiên Chúa, là một trong các hồng ân của Chúa Thánh Thần.
Số 2218 Điều răn thứ tư còn nhắc cho những người con, khi đã trưởng thành, nhớ các trách nhiệm của họ đối với cha mẹ. Con cái phải trợ giúp cho cha mẹ về vật chất và tinh thần, bao nhiêu có thể, trong những năm tháng của tuổi già, hoặc suốt thời gian bệnh tật, cô đơn hoặc túng thiếu. Chúa Giêsu nhắc lại bổn phận biết ơn này. “Chúa làm cho người cha được vẻ vang vì con cái, cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con. Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe. Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng (Hc 3,2-6). “Con ơi, hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già, bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người... Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Chúa nguyền rủa (Hc 3, 12-13.16).
Số 2219 Lòng hiếu thảo củng cố sự hài hoà trong toàn bộ đời sống gia đình, ảnh hưởng cả đến các tương quan giữa anh chị em. Lòng hiếu thảo đối với cha mẹ làm rạng rỡ bầu khí gia đình. “Triều thiên của người già là đàn con cháu, vinh dự của con cái là chính người cha (Cn 17,6). "Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau” (Ep 4,2).
Số 2220 Các Kitô hữu còn phải biết ơn đặc biệt những ai đã giúp mình lãnh nhận hồng ân đức tin, ân sủng bí tích Rửa Tội và sự sống trong Hội Thánh. Những người này có thể là cha mẹ, những phần tử khác của gia đình, ông bà, các vị mục tử, các giáo lý viên, thầy cô giáo hay bạn bè. “Tôi hồi tưởng lại lòng tin không giả hình của anh, lòng tin đã có nơi cụ Lôít, bà ngoại anh, nơi bà Êunikê, mẹ anh, cũng như chính nơi anh, tôi xác tín như vậy” (2 Tm 1,5).
Bổn phận của cha mẹ Số 2221 Sự phong phú của tình yêu phu phụ không chỉ giới hạn ở việc sinh sản con cái, mà còn phải mở rộng đến cả việc giáo dục luân lý và đào tạo thiêng liêng cho con cái. “Nhiệm vụ của cha mẹ trong việc giáo dục hết sức quan trọng đến nỗi, nếu thiếu, chắc chắn là không gì thay thế được”. Quyền và bổn phận giáo dục con cái là quyền và bổn phận hàng đầu và bất khả nhượng của cha mẹ.
Số 2222 Cha mẹ phải xem con cái của mình như những người con của Thiên Chúa và tôn trọng chúng như những nhân vị. Họ phải dạy cho con cái biết chu toàn Luật Thiên Chúa, bằng cách cho con cái thấy chính họ cũng vâng phục thánh ý Cha trên trời.
Số 2223 Cha mẹ là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục con cái. Họ thể hiện trách nhiệm này trước hết trong việc xây dựng gia đình, trong đó, tình âu yếm, lòng tha thứ, sự tôn trọng lẫn nhau, lòng chung thủy và sự phục vụ vô vị lợi phải là những chuẩn mực. Gia đình là nơi thích hợp cho việc giáo dục các nhân đức. Việc giáo dục này đòi phải tập bỏ mình, tập phán đoán lành mạnh, tập tự chủ, là những điều kiện để có sự tự do đích thực. Cha mẹ phải dạy cho con cái biết “đặt những gì là vật chất và tự nhiên phụ thuộc những gì thuộc nội tâm và tinh thần”. Cha mẹ có trách nhiệm quan trọng là phải nêu gương tốt cho con cái. Khi biết nhìn nhận những thiếu sót của mình trước mặt con cái, cha mẹ có uy tín hơn để hướng dẫn và sửa dạy con cái: “Thương con thì cho roi cho vọt... Ai biết giáo dục con sẽ được thỏa lòng về con (Hc 30,1-2). “Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy thay mặt Chúa giáo dục chúng bằng cách khuyên răn và sửa dạy (Ep 6,4).
Số 2224 Gia đình là môi trường tự nhiên để khai tâm cho nhân vị về tình liên đới và về các trách nhiệm trong cộng đồng. Cha mẹ phải dạy cho con cái biết giữ mình khỏi những nguy hiểm và những sa đọa đang đe dọa xã hội loài người.
Số 2225 Nhờ ân sủng của bí tích Hôn Phối, cha mẹ nhận trách nhiệm và đặc ân loan báo Tin Mừng cho con cái. Cha mẹ khai tâm cho con cái về các mầu nhiệm đức tin ngay từ lúc đầu đời, chính họ là “những sứ giả đầu tiên” của đức tin đối với con cái mình. Lúc chúng còn thơ ấu, cha mẹ phải cho con cái hoà nhập vào đời sống của Hội Thánh. Cách sống của gia đình có thể nuôi dưỡng những tâm tình tốt đẹp, những tâm tình đó vẫn luôn là sự chuẩn bị và sự nâng đỡ đích thực cho đức tin sống động trong suốt cuộc đời.
Số 2226 Việc giáo dục đức tin cho con cái phải được cha mẹ bắt đầu ngay từ tuổi ấu thơ của chúng. Việc giáo dục này đã khởi đầu, khi các phần tử trong gia đình giúp nhau lớn lên trong đức tin, nhờ chứng từ của một đời sống Kitô hữu theo Tin Mừng. Việc dạy giáo lý trong gia đình đi trước, đồng hành và làm phong phú các hình thức khác của việc giáo dục đức tin. Cha mẹ có sứ vụ dạy con cái cầu nguyện và khám phá ra ơn gọi làm con Thiên Chúa 19 . Giáo xứ là cộng đồng Thánh Thể và là trung tâm đời sống phụng vụ của các gia đình Kitô giáo; đó là nơi tốt nhất để dạy giáo lý cho con cái và cho cha mẹ chúng.
Số 2227 Về phần mình, con cái cũng làm cho cha mẹ chúng tăng trưởng trong sự thánh thiện 20 . Mọi người và mỗi người phải biết quảng đại và luôn sẵn sàng tha thứ cho nhau khi gặp những xúc phạm, gây gỗ, bất công và bỏ rơi. Tình yêu thương lẫn nhau gợi lên điều đó. Tình yêu đối với Đức Kitô đòi buộc điều đó 21 .
Số 2228 Khi con cái còn nhỏ, sự tôn trọng và yêu thương của cha mẹ được biểu lộ trước hết qua việc chăm sóc và lưu tâm nhằm dạy dỗ con cái mình, để đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của chúng. Khi chúng lớn lên, cũng vẫn sự tôn trọng và tận tụy đó thúc đẩy cha mẹ giáo dục con cái để chúng biết sử dụng lý trí và sự tự do của mình một cách đúng đắn.
Số 2229 Cha mẹ là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục con cái, nên có quyền lựa chọn cho con cái một trường học đáp ứng được những xác tín riêng của mình. Quyền này là một quyền căn bản. Cha mẹ có bổn phận, bao nhiêu có thể, lựa chọn những trường học nào giúp mình cách tốt nhất, để chu toàn nhiệm vụ của mình là nhà giáo dục Kitô giáo 22 . Công quyền có bổn phận bảo đảm quyền này của các bậc cha mẹ và tạo những điều kiện thực tế để cha mẹ thực thi quyền đó.
Số 2230 Khi đến tuổi trưởng thành, con cái có bổn phận và có quyền lựa chọn nghề nghiệp và bậc sống của mình. Con cái đảm nhận những trách nhiệm mới trong tương quan đầy tin tưởng đối với cha mẹ, sẵn sàng bàn hỏi và đón nhận các ý kiến và lời khuyên của cha mẹ. Cha mẹ phải lưu ý để không ép buộc con cái trong việc chọn nghề nghiệp hoặc chọn bạn trăm năm. Bổn phận giữ sự chừng mực này không ngăn cản họ mà trái lại trong việc trợ giúp con cái bằng những lời khuyên khôn ngoan, nhất là khi con cái có ý định lập gia đình.
Số 2231 Có những người không lập gia đình, để đảm nhận việc chăm sóc cha mẹ hoặc anh chị em mình, hoặc để dồn hết tâm trí vào một nghề nghiệp hay vì những động lực cao đẹp khác. Họ có thể góp phần lớn lao vào lợi ích của gia đình nhân loại.
IV. GIA ĐÌNH VÀ NƯỚC TRỜI Số 2232 Các mối liên hệ trong gia đình dù quan trọng, nhưng không phải tuyệt đối. Cũng như đứa trẻ tăng trưởng trong sự trưởng thành và sự tự lập về mặt nhân bản và thiêng liêng, thì cũng vậy, ơn gọi riêng của nó, ơn gọi đến từ Thiên Chúa, cũng được khẳng định một cách rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn. Cha mẹ phải tôn trọng ơn gọi này và khuyến khích con cái đáp trả bằng việc đi theo ơn gọi đó. Phải xác tín rằng ơn gọi thứ nhất của Kitô hữu là đi theo Chúa Giêsu 23 . “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai, con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy” (Mt 10,37).
Số 2233 Trở thành môn đệ Chúa Giêsu là chấp nhận lời mời gọi thuộc về gia đình Thiên Chúa, sống theo cách sống của Người: “Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12,50). Cha mẹ phải đón nhận và tôn trọng, với tâm tình vui mừng và tạ ơn, ơn gọi mà Chúa dành cho một người nào đó trong số con cái mình để đi theo Người trong sự trinh khiết vì Nước Trời, trong đời sống thánh hiến hay trong thừa tác vụ tư tế.
V. QUYỀN BÍNH TRONG XÃ HỘI DÂN SỰ Số 2234 Điều răn thứ tư cũng truyền dạy chúng ta phải tôn trọng tất cả những ai đã đón nhận từ Thiên Chúa một quyền bính trong xã hội để mưu ích cho chúng ta. Điều răn này soi sáng các bổn phận của những người thực thi quyền bính cũng như của cả những người được hưởng phúc lợi của quyền bính.
Bổn phận của quyền bính dân sự Số 2235 Những ai thực thi một quyền bính nào đó, phải thực thi như một việc phục vụ: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20,26). Việc thực thi quyền bính được quy định về mặt luân lý bởi nguồn gốc thần linh, bản chất hợp lý và đối tượng đặc trưng của nó. Không ai có thể truyền lệnh hay thiết lập điều gì trái với nhân phẩm và luật tự nhiên.
Số 2236 Việc thực thi quyền bính nhằm biểu lộ trật tự chính đáng của các giá trị giúp mọi người dễ dàng thực thi quyền tự do và trách nhiệm. Cấp trên phải khôn ngoan thực thi sự công bằng phân phối, bằng cách quan tâm đến những nhu cầu và phần đóng góp của mỗi người, và nhằm mưu cầu sự hòa thuận và bình an. Họ phải cảnh giác không để các chuẩn mực và quy định họ thiết lập, đưa đến cơn cám dỗ, là lợi ích cá vị đối nghịch với lợi ích của cộng đồng 24 .
Số 2237 Công quyền buộc phải tôn trọng các quyền lợi căn bản của nhân vị. Họ phải thực thi công bằng với lòng nhân đạo, trong khi tôn trọng quyền lợi của từng người, nhất là của các gia đình và của những người cùng khốn. Các quyền lợi chính trị gắn liền với tư cách công dân, có thể và phải được công nhận theo các đòi hỏi của công ích. Các quyền ấy không thể bị công quyền đình chỉ khi không có lý do hợp pháp và tương xứng. Việc thực thi các quyền lợi chính trị được sắp xếp hướng tới công ích của quốc gia và của cộng đồng nhân loại.
Bổn phận của công dân Số 2238 Những người phục tùng quyền bính phải coi cấp trên của mình như những người đại diện Thiên Chúa, Đấng đã đặt họ làm thừa tác viên phân phát các hồng ân của Ngài 25 : “Vì Chúa, anh em hãy tuân phục mọi thể chế do loài người đặt ra.... Hãy hành động như những người tự do, không phải như những người lấy sự tự do làm màn che sự gian ác, nhưng như những tôi tớ của Thiên Chúa” (1 Pr 2,13.16). Sự cộng tác trung thành của những người phục tùng quyền bính bao hàm quyền, đôi khi là bổn phận, phải lên tiếng phê phán cách công bằng những gì họ coi là có hại cho phẩm giá của các nhân vị và cho công ích.
Số 2239 Bổn phận của các công dân là cộng tác với chính quyền dân sự để mưu ích cho xã hội trong tinh thần tôn trọng chân lý, công bằng, tình liên đới và sự tự do. Lòng yêu mến và sự phục vụ Tổ quốc phát xuất từ bổn phận của sự biết ơn và theo trật tự của đức mến. Việc tùng phục quyền bính hợp pháp và sự phục vụ công ích đòi hỏi các công dân thực thi nhiệm vụ của mình trong đời sống của cộng đồng chính trị.
Số 2240 Việc tùng phục quyền bính và tinh thần đồng trách nhiệm đối với công ích đòi hỏi các công dân, về mặt luân lý, phải đóng thuế, thực thi quyền bầu cử và bảo vệ quê hương: “Anh em nợ ai cái gì, hãy trả cho người ta cái đó: nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính (Rm 13,7). Các Kitô hữu “cư ngụ trên quê hương riêng của mình, nhưng như những ngoại kiều; họ có chung mọi sự với những người khác, như các công dân, và chịu đựng mọi sự như những lữ khách.... Họ tuân theo luật pháp thiết định nhưng cách sống của họ vượt trên luật pháp.... Thiên Chúa đã dành cho họ một địa vị cao quý đến độ họ không bỏ đi được 26 . Thánh Tông Đồ cũng khuyến dụ chúng ta phải cầu nguyện và tạ ơn Chúa cho các vua và tất cả những người thực thi quyền bính, “để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh (1 Tm 2,2).
Số 2241 Những quốc gia giàu hơn buộc phải đón nhận, bao nhiêu có thể, những người nước ngoài đến tìm kiếm an ninh và sinh kế mà họ không có được nơi chính quê hương họ. Công quyền phải quan tâm tôn trọng quyền tự nhiên là luật đặt người khách dưới sự che chở của những ai đón nhận họ. Vì công ích, chính quyền có thể quy định một số điều kiện pháp lý cho quyền nhập cư, nhất là đòi hỏi các người di cư phải tôn trọng các bổn phận đối với quốc gia đón nhận họ. Người nhập cư buộc phải tôn trọng, với lòng biết ơn, di sản vật chất và tinh thần của đất nước đón nhận họ, tuân thủ luật pháp và chia sẻ các nhiệm vụ trong nước đó.
Số 2242 Người công dân bị buộc theo lương tâm, không được tuân theo những chỉ thị của chính quyền dân sự, khi những mệnh lệnh đó đi ngược lại các đòi hỏi trong lãnh vực luân lý, các quyền lợi căn bản của con người hoặc các giáo huấn của Tin Mừng. Sự khước từ vâng phục chính quyền dân sự, khi những đòi hỏi của chính quyền dân sự đi ngược lại những đòi hỏi của lương tâm ngay thẳng, được biện minh bằng việc phải phân biệt giữa việc phục vụ Thiên Chúa và việc phục vụ cộng đồng chính trị. “Của César, trả về Cesar; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa" (Mt 22,21). "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm” (Cv 5,29): “Khi công quyền vượt quá quyền hạn của mình mà đàn áp các công dân, thì chính các công dân đừng từ chối những gì công ích đòi hỏi cách khách quan. Họ được phép bảo vệ các quyền lợi của mình và của đồng bào mình, chống lại sự lạm dụng của quyền bính này, với sự tôn trọng các giới hạn, mà Luật tự nhiên và Luật Tin Mừng đã vạch ra 27 .
Số 2243 Hành động dùng vũ khí chống lại sự áp bức của chính quyền là không hợp pháp, trừ khi đồng thời hội đủ các điều kiện sau đây: Trong trường hợp chắc chắn các quyền lợi căn bản bị vi phạm một cách nghiêm trọng và kéo dài; Sau khi đã dùng hết mọi phương cách khác; Không gây ra những xáo trộn tệ hại hơn; Có đủ cơ sở để hy vọng thành công tốt đẹp. Không thể tiên liệu hợp lý được những giải pháp tốt hơn.
Cộng đồng chính trị và Hội Thánh Số 2244 Mọi thể chế đều, ít là cách mặc nhiên, được cảm hứng bởi một tầm nhìn (visio) nào đó về con người và về vận mệnh của con người, từ đó, thể chế rút ra điểm quy chiếu cho các phán đoán của mình, bậc thang các giá trị và quy tắc hành động của mình. Đa số các xã hội xây dựng thể chế của mình dựa trên một sự ưu việt nào đó của con người trên các sự vật. Chỉ có tôn giáo được Thiên Chúa mạc khải, mới nhận biết cách rõ ràng rằng nguồn gốc và vận mệnh của con người ở nơi Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá và Cứu Chuộc. Hội Thánh mời gọi các chính quyền quy chiếu các phán đoán và quyết định của mình theo sự linh hứng của chân lý về Thiên Chúa và về con người. Các xã hội không biết đến hay khước từ sự linh hứng này, nhân danh sự độc lập của mình đối với Thiên Chúa, đều đi tới chỗ tìm nơi chính mình hay vay mượn ở một ý thức hệ nào đó những điểm quy chiếu và vận mệnh của mình và, vì không chấp nhận cho người ta bảo vệ một tiêu chuẩn khách quan về điều tốt điều xấu, các xã hội ấy tự cho mình một quyền lực độc tài, một cách công khai hoặc ngấm ngầm, đối với con người và vận mệnh con người, như lịch sử đã cho thấy 28 .
Số 2245 “Do nhiệm vụ và thẩm quyền của mình, Hội Thánh không hề bị lẫn lộn với một cộng đồng chính trị.... Hội Thánh vừa là dấu chỉ, vừa là người bảo vệ tính cách siêu việt của nhân vị” 29 . Hội Thánh “tôn trọng và cổ võ sự tự do chính trị và trách nhiệm của các công dân” 30
Số 2246 Hội Thánh có sứ vụ “đưa ra phán đoán luân lý, cả trong những vấn đề liên quan tới lãnh vực chính trị, khi các quyền lợi căn bản của con người hay ơn cứu độ các linh hồn đòi hỏi, bằng cách sử dụng mọi phương tiện và chỉ những phương tiện nào phù hợp với Tin Mừng và hoà hợp với lợi ích của mọi người, tuỳ theo các thời đại và các hoàn cảnh khác nhau 31 .
TÓM LƯỢC Số 2247 “Hãy thờ cha kính mẹ" (Đnl 5,16; Mc 7,10).
Số 2248 Theo điều răn thứ tư, Thiên Chúa muốn rằng, sau Ngài, chúng ta phải tôn kính cha mẹ và những người được Ngài trao ban quyền bính để mưu ích cho chúng ta.
Số 2249 Cộng đồng phu phụ được thiết lập trên giao ước và sự ưng thuận của đôi phối ngẫu. Hôn nhân và gia đình được sắp xếp hướng về lợi ích của đôi phối ngẫu, về việc sinh sản và giáo dục con cái.
Số 2250 “Sự an sinh của nhân vị, của xã hội nhân loại và Kitô giáo liên kết chặt chẽ với tình trạng tốt đẹp của cộng đồng hôn nhân và gia đình 32 .
Số 2251 Con cái phải tôn kính, biết ơn, vâng lời chính đáng và trợ giúp cha mẹ. Lòng hiếu thảo của con cái củng cố sự hài hoà của toàn bộ đời sống gia đình.
Số 2252 Cha mẹ là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục con cái về đức tin, về việc cầu nguyện và về mọi nhân đức. Bao nhiêu có thể, cha mẹ có bổn phận đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của con cái mình.
Số 2253 Cha mẹ phải tôn trọng và khuyến khích ơn gọi của con cái mình. Họ phải ý thức và dạy cho con cái biết rằng, đi theo Chúa Giêsu, là ơn gọi thứ nhất của Kitô hữu.
Số 2254 Công quyền buộc phải tôn trọng các quyền lợi căn bản của nhân vị và các điều kiện để thực thi sự tự do của nhân vị.
Số 2255 Các công dân có bổn phận phải cộng tác với quyền bính dân sự để xây dựng xã hội trong tinh thần tôn trọng chân lý, sự công bằng, tình liên đới và sự tự do.
Số 2256 Theo lương tâm, công dân bắt buộc không được tuân theo các chỉ thị của quyền bính dân sự, khi những mệnh lệnh này đi ngược lại những đòi hỏi thuộc lãnh vực luân lý. “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm” (Cv 5,29).
Số 2257 Mọi xã hội đều quy chiếu các phán đoán và cách hành động của mình dựa trên một tầm nhìn (visio) nào đó về con người và vận mệnh của con người. Ngoài ánh sáng của Tin Mừng về Thiên Chúa và về con người, các xã hội sẽ dễ trở thành “độc tài”. Mục 5: Điều Răn Thứ Năm Lời Chúa “Ngươi không được giết người” (Xh 20,13). "Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người. Ai giết người thì đáng bị đưa ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa" (Mt 5,21-22).
Số 2258 “Sự sống con người phải được coi là điều linh thánh, vì từ lúc khởi đầu của mình, sự sống đó đòi phải có hành động của Đấng Tạo Hoá và mãi mãi được liên kết một cách đặc biệt với Đấng Tạo Hoá, là cùng đích duy nhất của mình. Chỉ có Thiên Chúa là Chúa của sự sống từ khi sự sống khởi đầu cho tới khi kết thúc: không ai, trong bất cứ hoàn cảnh nào, có thể dành cho mình quyền trực tiếp đem cái chết đến cho một thụ tạo nhân linh vô tội” 33 .
I. TÔN TRỌNG SỰ SỐNG CON NGƯỜI Bằng chứng trong lịch sử thánh Số 2259 Trong trình thuật người anh là Cain giết em là Abel 34 , Sách Thánh cho thấy, ngay từ những buổi đầu của lịch sử nhân loại, đã có sự giận dữ và ham muốn nơi con người, đó là những hậu quả của nguyên tội. Con người trở thành kẻ thù của đồng loại mình. Thiên Chúa vạch rõ tính hiểm ác của tội huynh đệ tương tàn: “Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta. Giờ đây, ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra (St 4,10-11).
Số 2260 Giao ước giữa Thiên Chúa và loài người được dệt bằng những lời nhắc nhớ về hồng ân của Thiên Chúa là sự sống con người, và về bạo lực sát nhân của con người: “Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình.... Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa" (St 9,5-6). Cựu Ước luôn coi máu như dấu chỉ linh thánh của sự sống 35 . Giáo lý này vẫn luôn là điều cần thiết cho mọi thời đại.
Số 2261 Thánh Kinh xác định luật cấm của điều răn thứ năm: “Ngươi không được giết kẻ vô tội và công chính (Xh 23,7). Cố ý giết một kẻ vô tội là một trọng tội chống lại phẩm giá của thụ tạo nhân linh, chống lại “khuôn vàng thước ngọc” (regula aurea) và sự thánh thiện của Đấng Tạo Hoá. Luật cấm giết người có giá trị phổ quát: bắt buộc mọi người và mỗi người, mọi lúc và mọi nơi.
Số 2262 Trong Bài giảng trên núi, Chúa nhắc lại điều răn này: “Chớ giết người” (Mt 5,21), Người còn thêm vào đó lệnh cấm giận dữ, căm ghét và báo thù. Thậm chí Đức Kitô còn đòi hỏi môn đệ của Người phải đưa cả má bên kia 36 , phải yêu kẻ thù của mình 37 . Chính Người đã không tự vệ và bảo ông Phêrô xỏ gươm vào bao 38 .
Sự tự vệ hợp pháp Số 2263 Sự tự vệ hợp pháp của các cá vị và các tập thể không phải là một luật trừ đối với luật cấm giết người vô tội tức là việc giết người có chủ ý. “Hành vi của người tự vệ nguyên nó có thể có hậu quả kép: một đàng là để bảo tồn sự sống của chính mình; nhưng đàng khác lại có việc giết kẻ tấn công” 39 . “Không gì cấm một hành vi có hai hậu quả, chỉ có một hậu quả là do chủ ý, còn hậu quả kia không do chủ ý” 40 .
Số 2264 Tình yêu đối với chính mình vẫn luôn là nguyên tắc căn bản của luân lý. Vì vậy, làm thế nào để quyền được sống của chính mình được tôn trọng là điều hợp pháp. Ai bảo vệ mạng sống mình, thì không mắc tội giết người, mặc dầu có giáng một ngọn đòn chí tử vào kẻ tấn công. “Nếu ai bảo vệ mạng sống mình mà sử dụng bạo lực quá mức cần thiết, thì hành vi này sẽ là bất hợp pháp. Còn nếu người đó đẩy lui bạo lực một cách chừng mực, thì đó sẽ là tự vệ hợp pháp.... Cũng không nhất thiết là để được cứu, thì người ta phải từ khước hành vi tự vệ chừng mực, hầu tránh giết chết người khác: bởi vì người ta buộc phải lo cho sự sống của mình hơn là cho sự sống của người khác" 41 .
Số 2265 Sự bảo vệ hợp pháp không những là một quyền, mà còn là một bổn phận quan trọng của người có trách nhiệm về sự sống của những người khác. Việc bảo vệ công ích đòi phải đặt kẻ xâm phạm bất chính ra ngoài khả năng tác hại. Vì vậy, những ai nắm quyền bính hợp pháp có quyền sử dụng cả đến vũ khí để ngăn chặn những kẻ xâm phạm đến cộng đồng dân sự đã được ủy thác cho trách nhiệm của họ.
Số 2266 Nỗ lực của Nhà Nước, nhằm giới hạn sự lan tràn những cách hành động làm tổn thương các quyền con người và những chuẩn mực nền tảng của sinh hoạt dân sự, đáp ứng với đòi hỏi bảo vệ công ích. Công quyền hợp pháp có quyền và có bổn phận đề ra những hình phạt tương xứng với tính nghiêm trọng của tội phạm. Hình phạt có mục tiêu đầu tiên là đền bù sự vô trật tự do lỗi lầm gây ra. Nếu phạm nhân tự nguyện chấp nhận, thì hình phạt có giá trị đền tội. Từ đó, ngoài việc bảo vệ trật tự công cộng và an ninh cho các nhân vị, hình phạt còn có mục tiêu chữa trị: hình phạt, trong mức độ bao nhiêu có thể, phải góp phần cải hóa phạm nhân.
Số 2267 Giáo huấn truyền thống của Hội Thánh, sau khi đã xác minh đầy đủ căn tính và trách nhiệm của phạm nhân, không loại trừ việc kết án tử hình, nếu đây là con đường khả thi duy nhất để bảo vệ hữu hiệu mạng sống con người khỏi bị xâm phạm cách bất công. Tuy nhiên, nếu các phương tiện không đổ máu đã đủ để bảo vệ và che chở sự an toàn của các nhân vị khỏi kẻ xâm phạm, thì nhà cầm quyền chỉ nên dùng những phương tiện này, vì chúng đáp ứng tốt hơn cho những hoàn cảnh cụ thể của công ích và phù hợp hơn với phẩm giá của nhân vị. Thật ra, trong thời đại chúng ta, vì Nhà Nước có nhiều khả năng để chế ngự tội ác cách hữu hiệu, làm cho kẻ đã phạm tội không còn khả năng tác hại, mà không tước đoạt cách vĩnh viễn khả năng chuộc tội của họ, nên những trường hợp tuyệt đối cần thiết phải khử trừ phạm nhân, “từ nay sẽ rất hiếm, nếu không muốn nói là trong thực tế không còn nữa” 42 .
Tội giết người có chủ ý Số 2268 Điều răn thứ năm coi việc giết người cách trực tiếp và có chủ ý là một trọng tội. Kẻ sát nhân và những người cộng tác một cách có chủ ý phạm tội kêu thấu tới trời đòi báo thù 43 . Tội giết trẻ thơ, giết anh em, giết cha mẹ, giết người phối ngẫu là những tội ác đặc biệt nghiêm trọng, vì các dây liên kết tự nhiên bị phá huỷ. Sự quan tâm tới nòi giống hoặc tới sự chăm sóc sức khoẻ công cộng không thể biện minh cho bất cứ việc giết người nào, dù do công quyền ra lệnh.
Số 2269 Điều răn thứ năm cũng cấm làm một điều gì với ý hướng gây chết người cách gián tiếp. Luật luân lý cấm đặt một người nào đó vào chỗ nguy tử nếu không có lý do nghiêm trọng, cũng như cấm từ chối giúp đỡ một người đang lâm nguy. Xã hội nhân loại để người ta chết đói mà không nỗ lực trợ giúp, là một bất công đáng ghê tởm và là trọng tội. Các con buôn nào do sự ham lợi của mình mà gây ra đói kém và chết chóc cho anh em đồng loại, cũng phạm tội giết người cách gián tiếp. Họ bị quy tội về điều này 45 . Giết người không có chủ ý không bị quy tội về mặt luân lý. Nhưng nếu ai, không có lý do tương xứng, mà hành động gây chết người, thì mặc dù không cố ý gây ra cái chết đó, vẫn không được tha thứ khỏi trọng tội.
Tội phá thai Số 2270 Sự sống con người, ngay từ lúc tượng thai, phải được tôn trọng và bảo vệ cách tuyệt đối. Ngay từ giây phút bắt đầu hiện hữu, các thụ tạo nhân linh phải được nhìn nhận có các quyền lợi của một nhân vị, trong đó có quyền được sống là quyền bất khả xâm phạm của mọi thụ tạo vô tội 46 . “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi (Gr 1,5). “Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu” (Tv 139,15).
Số 2271 Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Hội Thánh đã khẳng định mọi vụ phá thai đều là tội ác luân lý. Giáo huấn đó không thay đổi. Giáo huấn đó vẫn luôn luôn không thể thay đổi. Việc phá thai trực tiếp, nghĩa là, hoặc được muốn như mục đích hoặc được muốn như phương tiện, đều trái ngược một cách nghiêm trọng với luật luân lý. “Không được phá thai cũng như không được giết trẻ sơ sinh 47 . “Thiên Chúa là Chúa của sự sống, đã giao phó cho con người nhiệm vụ cao cả là bảo tồn sự sống, và họ phải chu toàn nhiệm vụ đó cách xứng đáng với con người. Vì vậy, sự sống ngay từ lúc tượng thai, phải được bảo vệ hết sức cẩn thận: việc phá thai và giết trẻ sơ sinh là những tội ác ghê tởm” 48 .
Số 2272 Cộng tác chính thức vào việc phá thai là một trọng tội. Theo giáo luật, Hội Thánh phạt vạ tuyệt thông cho tội ác chống lại sự sống con người này. “Người nào thi hành việc phá thai, và nếu việc phá thai có hiệu quả, thì bị vạ tuyệt thông tiên kết (latae sententiae) 49 , “tức khắc do chính sự kiện phạm tội” 50 , theo những điều kiện đã được giáo luật dự liệu. Làm như vậy, Hội Thánh không có ý đặt giới hạn cho lòng thương xót. Hội Thánh muốn cho thấy tính cách nghiêm trọng của tội ác đã phạm, sự thiệt hại không thể sửa chữa được đã gây ra cho người vô tội bị giết chết, cho cha mẹ của em và cho toàn xã hội.
Số 2273 Quyền được sống là quyền bất khả nhượng của mỗi người vô tội. Đây là một yếu tố cấu thành của xã hội dân sự và của luật pháp của xã hội đó: “Những quyền bất khả nhượng của nhân vị phải được xã hội dân sự và công quyền nhìn nhận và tôn trọng. Những quyền này không tùy thuộc vào các cá nhân, không tùy thuộc vào các cha mẹ, cũng không phải là một nhân nhượng do xã hội và Nhà Nước làm ra, nhưng những quyền này thuộc về bản tính con người và gắn liền với nhân vị do chính hành động tạo dựng, là nguồn gốc của con người. Trong những quyền căn bản đó, phải kể đến quyền được sống và được toàn vẹn thân thể mà mỗi thụ tạo nhân linh được hưởng, từ lúc tượng thai cho đến khi chết” 52 . “Khi luật dân sự tước của một hạng người quyền được hưởng sự bảo vệ mà luật pháp phải mang lại, thì Nhà Nước đã phủ nhận sự bình đẳng của mọi công dân trước luật pháp. Khi Nhà Nước không đem sức mạnh của mình bảo vệ quyền của mỗi người, đặc biệt những người yếu kém, thì chính các nền tảng của một Nhà Nước pháp quyền bị lung lay.... Do việc tôn trọng và bảo vệ trẻ em sẽ chào đời, ngay từ lúc tượng thai, luật pháp phải dự liệu những hình phạt tương xứng chống lại bất cứ sự cố ý vi phạm nào đến các quyền của trẻ em" 53 .
Số 2274 Vì phải được đối xử như một nhân vị từ lúc tượng thai, nên phôi thai phải được bảo vệ, chăm sóc và chữa trị trong sự toàn vẹn của nó, bao nhiêu có thể, cũng như bất cứ thụ tạo nhân linh nào khác. Việc khám thai trước khi sinh là điều hợp pháp về mặt luân lý, “nếu việc đó tôn trọng sự sống và sự toàn vẹn của phôi thai và của thai nhi, và nếu nhắm đến việc bảo tồn hay chữa trị phôi thai.... Nhưng việc khám thai sẽ trái ngược cách nghiêm trọng với luật luân lý, nếu có ý khám thai để căn cứ vào kết quả, có thể dẫn đến phá thai: Khám thai ... không được trở thành tương đương với việc tuyên án tử hình 54 .
Số 2275 “Những can thiệp trên phôi người phải được coi là hợp pháp, với điều kiện là, phải tôn trọng sự sống và sự toàn vẹn của phôi thai, và không kèm theo những nguy cơ không tương xứng cho phôi thai, nhưng phải nhắm tới việc chữa trị, cải thiện tình trạng sức khỏe, hoặc để cứu sống chính phôi thai 55 . “Sản xuất những phôi người để lạm dụng, nghĩa là để sử dụng như một vật liệu sinh học, là vô luân" 56 . “Một số thử nghiệm can thiệp trên bộ nhiễm sắc thể hoặc gien di truyền không phải để trị liệu, nhưng nhằm sản xuất ra những con người được tuyển lựa theo phái tính hoặc theo những đặc điểm khác được định sẵn. Những việc làm nhân tạo đó nghịch lại với phẩm giá của nhân vị, sự toàn vẹn và căn tính 'duy nhất, không trùng lắp' của con người” 57 .
Cái chết êm dịu (Euthanasia) Số 2276 Phải đặc biệt tôn trọng sự sống của những người tàn tạ, yếu ớt. Những người bệnh hoạn hoặc khuyết tật (handicap) phải được nâng đỡ để sống một cuộc sống bình thường, bao nhiêu có thể.
Số 2277 Cái chết êm dịu trực tiếp, với bất cứ lý do nào hoặc dùng phương tiện nào, cốt tại việc chấm dứt sự sống của những người tật nguyền, bệnh hoạn hoặc hấp hối. Về phương diện luân lý, việc này không thể chấp nhận được. Như vậy, một hành động hoặc một thiếu sót, tự nó hoặc với ý hướng, gây ra cái chết để chấm dứt sự đau đớn, là một tội giết người, nghịch lại một cách nghiêm trọng với phẩm giá của nhân vị và với sự tôn trọng Thiên Chúa hằng sống, Đấng Tạo Hoá của con người. Một phán đoán sai lầm mắc phải cách ngay tình, không thay đổi bản chất của hành vi sát nhân này, một hành vi luôn phải cấm chỉ và loại trừ 58 .
Số 2278 Việc ngưng các phương tiện y khoa, quá tốn kém, mạo hiểm, ngoại thường hoặc không tương xứng với những kết quả mong muốn, có thể là hợp pháp. Đây là sự từ chối “việc trị liệu khắc nghiệt”. Theo cách này, ta không muốn đưa đến cái chết, nhưng chấp nhận vì không thể ngăn cản được cái chết. Chính bệnh nhân phải quyết định, nếu họ có thẩm quyền và khả năng, nếu không, việc quyết định phải do những người có quyền theo luật pháp, nhưng luôn phải tôn trọng ý muốn hợp lý và quyền lợi hợp pháp của người bệnh.
Số 2279 Dù cái chết xem ra gần kề, vẫn phải chăm sóc bình thường cho bệnh nhân, chứ không thể ngưng một cách hợp pháp. Việc sử dụng các loại thuốc giảm đau, để làm dịu bớt sự đau đớn của người hấp hối, cả khi có nguy cơ rút ngắn những ngày sống của họ, về mặt luân lý có thể được coi là phù hợp với nhân phẩm, miễn là không nhắm đến cái chết như mục đích hay như phương tiện, nhưng chỉ tiên đoán và phải chấp nhận cái chết như điều không thể tránh. Việc chăm sóc để giảm đau là một hình thức tuyệt vời của đức mến vô vị lợi. Vì thế, công việc này cần được khuyến khích.
Tội tự sát Số 2280 Mỗi người chịu trách nhiệm về sự sống của mình trước mặt Thiên Chúa là Đấng đã ban sự sống cho mình. Chính Ngài vẫn là Chủ tể tối thượng của sự sống. Chúng ta buộc phải đón nhận sự sống với lòng biết ơn và gìn giữ sự sống để tôn vinh Ngài và để cứu độ linh hồn chúng ta. Chúng ta là những người quản lý chứ không phải những ông chủ của sự sống mà Thiên Chúa đã trao phó cho chúng ta. Chúng ta không có quyền định đoạt về sự sống.
Số 2281 Tự sát nghịch với khuynh hướng tự nhiên của thụ tạo nhân linh là muốn bảo tồn và kéo dài sự sống của mình. Tự sát nghịch lại một cách nghiêm trọng với tình yêu chính đáng đối với bản thân. Tự sát còn xúc phạm đến tình yêu đối với người lân cận, bởi vì nó cắt đứt một cách bất công những mối dây liên đới với gia đình, quốc gia và nhân loại mà chúng ta vẫn còn có trách nhiệm đối với các cộng đồng đó. Tự sát đối nghịch với tình yêu của Thiên Chúa hằng sống.
Số 2282 Nếu tự sát với ý định nêu gương, nhất là đối với giới trẻ, thì tội này còn mang thêm tính nghiêm trọng là làm gương xấu. Cộng tác có chủ ý vào việc tự sát là trái nghịch với luật luân lý. Những rối loạn tâm thần trầm trọng, lo âu hay quá sợ hãi trước một thử thách, trước đau khổ hoặc cực hình, có thể làm giảm thiểu trách nhiệm của người tự sát.
Số 2283 Không được tuyệt vọng về ơn cứu độ vĩnh cửu của những người tự mình tìm đến cái chết. Thiên Chúa có thể ban cho họ những cơ hội thống hối để được ơn cứu độ, bằng những đường lối mà chỉ một mình Ngài biết. Hội Thánh cầu nguyện cho những người tự hủy hoại mạng sống mình.
II. TÔN TRỌNG PHẨM GIÁ CON NGƯỜI Tôn trọng linh hồn tha nhân: gương xấu Số 2284 Gương xấu là thái độ hoặc cách hành động dẫn người khác đến chỗ làm điều xấu. Ai làm gương xấu, người đó trở thành tên cám dỗ người lân cận. Người đó làm hại đến nhân đức và sự chính trực; người đó có thể đưa anh em mình đến cái chết về phần thiêng liêng. Gương xấu trở thành một trọng tội, nếu bằng hành động hay bằng sự thiếu sót, gương xấu chủ ý lôi kéo tha nhân đến chỗ phạm trọng tội.
Số 2285 Gương xấu trở thành đặc biệt nghiêm trọng do thế giá của những người làm gương xấu hoặc do sự yếu đuối của những người phải chịu gương xấu. Điều ấy đã khiến Chúa chúng ta chúc dữ: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn... sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn” 59 (Mt 18,6). Gương xấu là nghiêm trọng, khi do những người, theo bản chất hoặc nhiệm vụ, có bổn phận dạy dỗ và giáo dục kẻ khác gây ra. Chúa Giêsu đã quở trách các kinh sư và các Pharisêu về điều đó: Người đã so sánh họ như sói đội lốt chiên 60 .
Số 2286 Gương xấu có thể phát sinh do luật pháp hoặc những thể chế, do thời trang hoặc dư luận. Như vậy, mắc tội làm gương xấu, là những ai thiết lập những luật lệ hoặc những cơ cấu xã hội dẫn đến việc phong hóa bị suy đồi và đời sống đạo hạnh bị hư hỏng, hoặc đến việc “những hoàn cảnh xã hội, dù cố ý hay không, làm cho người ta khó, hoặc hầu như không thể, thực hiện được một đời sống Kitô giáo phù hợp với các điều răn của Nhà Làm Luật tối thượng 61 . Cũng mắc tội làm gương xấu, là các chủ nhân đặt ra những luật lệ khuyến khích gian lận, các bậc phụ huynh làm cho con cái “tức giận” 62 , hoặc những kẻ khích động dư luận một cách gian manh, khiến dư luận quay lưng lại với những giá trị luân lý.
Số 2287 Ai sử dụng các quyền lực mình đang có vào những hoàn cảnh dẫn người khác đến việc làm điều xấu, thì mang tội gây gương xấu và chịu trách nhiệm về điều xấu mình đã trực tiếp hoặc gián tiếp khuyến khích. “Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã” (Lc 17,1).
Tôn trọng sức khỏe Số 2288 Sự sống và sức khỏe thể lý là những ơn rất quý giá Thiên Chúa giao phó cho chúng ta. Chúng ta phải chăm sóc chúng cách hợp lý, dù vẫn phải lưu tâm đến những nhu cầu của tha nhân và của công ích. Việc chăm sóc sức khỏe của các công dân phải được sự trợ giúp của xã hội để có những điều kiện sống giúp họ lớn lên và đạt tới mức trưởng thành: cơm ăn, áo mặc, nhà ở, chăm sóc sức khỏe, giáo dục căn bản, việc làm và trợ cấp xã hội.
Số 2289 Mặc dù luân lý đòi phải tôn trọng sự sống thể xác, nhưng luân lý không dành cho nó một giá trị tuyệt đối. Luân lý chống lại não trạng tân ngoại giáo, có ý muốn cổ võ sự tôn thờ thân xác, hy sinh tất cả cho thân xác, thờ ngẫu tượng là sự trọn hảo thể lý và sự chiến thắng trong các hoạt động thể dục thể thao. Một não trạng như vậy, vì chọn lọc người khỏe và loại bỏ người yếu, có thể đi tới chỗ làm băng hoại các tương quan giữa con người.
Số 2290 Đức tiết độ giúp tránh mọi thái quá như: ăn uống quá độ, lạm dụng rượu, thuốc hút và y dược. Những người ở trong trạng thái say rượu hoặc say mê tốc độ không chừng mực, gây nguy hiểm cho sự an toàn của tha nhân hoặc của chính mình trên đường, trên biển hoặc trên không, đều có tội cách nghiêm trọng.
Số 2291 Việc sử dụng ma túy gây ra những tàn phá hết sức nghiêm trọng cho sức khỏe và mạng sống con người. Ngoài những chỉ dẫn để trị liệu một cách tỉ mỉ, sử dụng ma túy là một tội nghiêm trọng. Việc bí mật sản xuất và buôn bán ma tuý là đáng ghê tởm; đó là sự cộng tác trực tiếp, vì các hoạt động đó xúi giục những việc sử dụng chống lại luật luân lý cách nghiêm trọng.
Tôn trọng con người và nghiên cứu khoa học Số 2292 Những thí nghiệm khoa học, về y khoa hoặc về tâm lý, trên các cá vị hoặc các nhóm người, có thể góp phần vào việc chữa bệnh và sự tiến bộ của sức khoẻ cộng đồng.
Số 2293 Việc nghiên cứu khoa học cơ bản và cả nghiên cứu áp dụng, là một biểu lộ đầy ý nghĩa quyền bá chủ của con người trên công trình tạo dựng. Khoa học và kỹ thuật là những sự trợ giúp rất quý giá khi được đưa vào phục vụ con người, và giúp phát triển toàn diện con người để mưu ích chung; nhưng khoa học và kỹ thuật tự chúng không thể đem lại ý nghĩa cho cuộc đời và cho sự tiến bộ của con người. Khoa học và kỹ thuật quy hướng về con người, xuất phát từ con người và tiến bộ nhờ con người; vì thế chính nơi con người và các giá trị luân lý của con người, khoa học và kỹ thuật mới tìm được sự chỉ dẫn cho mục đích của chúng và ý thức được những giới hạn của chúng.
Số 2294 Thật là ảo tưởng, khi đòi cho việc nghiên cứu khoa học và những áp dụng khoa học tính trung lập về luân lý. Đàng khác, những tiêu chuẩn định hướng không thể rút ra chỉ từ hiệu quả kỹ thuật, hoặc từ sự hữu ích cho những người này nhưng lại tổn hại cho những người khác, hoặc tệ hơn nữa, từ những ý thức hệ đang chiếm ưu thế. Khoa học và kỹ thuật, do bản chất của nó, đòi hỏi phải tuyệt đối tôn trọng các tiêu chuẩn căn bản của luân lý; phải nhằm phục vụ nhân vị, phục vụ các quyền bất khả nhượng của nhân vị, lợi ích đích thực và toàn vẹn của nhân vị, theo dự định và ý muốn của Thiên Chúa.
Số 2295 Những nghiên cứu hoặc thí nghiệm trên con người không thể hợp pháp hoá những hành vi tự chúng là nghịch với phẩm giá của các nhân vị và với luật luân lý. Sự ưng thuận của các đương sự, nếu có, cũng không biện minh được cho những hành vi như vậy. Thí nghiệm trên con người là không hợp pháp về mặt luân lý, nếu sự thí nghiệm đó làm cho mạng sống hoặc sự toàn vẹn tâm sinh lý của đương sự rơi vào những nguy cơ không tương xứng hoặc không thể tránh khỏi. Ngoài ra, thí nghiệm trên con người là không phù hợp với phẩm giá của nhân vị, nếu nó được tiến hành mà không có sự ưng thuận có ý thức của đương sự hoặc của những người có quyền đối với đương sự.
Số 2296 Việc ghép các bộ phận cơ thể là phù hợp với luật luân lý, nếu các nguy hiểm và rủi ro về thể lý và tâm lý nơi người cho, tương xứng với lợi ích được tìm kiếm nơi người nhận. Việc hiến các bộ phận sau khi chết là một hành vi cao quý đáng khen thưởng, và phải được khuyến khích như sự biểu lộ tình liên đới quảng đại. Không thể chấp nhận về mặt luân lý, nếu người cho, hoặc những thân nhân có quyền trên đương sự, không ưng thuận cách minh nhiên. Ngoài ra, không thể chấp nhận về mặt luân lý, việc trực tiếp cưa cắt khiến tàn phế, hoặc trực tiếp gây cái chết, dù nhằm làm cho cái chết của những người khác chậm lại.
Tôn trọng sự toàn vẹn của thân thể Số 2297 Nạn bắt cóc và giữ làm con tin gieo kinh hoàng và, bằng những đe dọa, tạo áp lực không thể chịu nổi cho các nạn nhân. Những việc này là bất hợp pháp về mặt luân lý. Khủng bố đe dọa, gây thương tích và giết người cách bừa bãi; việc này đi ngược lại sự công bằng và bác ái cách nghiêm trọng. Tra tấn, tức là dùng bạo lực về thể lý hay luân lý để điều tra, để trừng phạt tội phạm, để đe dọa đối phương, để thoả mãn lòng thù ghét, là nghịch với sự tôn trọng con người và phẩm giá con người. Ngoài những trường hợp được thực hiện thật sự vì lý do trị liệu, việc cắt bỏ, hủy hoại hoặc triệt sản có chủ ý một cách trực tiếp trên những người vô tội đều nghịch với luật luân lý 63 .
Số 2298 Trong quá khứ các chính phủ hợp pháp thường sử dụng những biện pháp tàn bạo để duy trì lề luật và trật tự, mà thường các mục tử của Hội Thánh đã không phản kháng việc đó; chính những vị này còn áp dụng các quy định của bộ luật Rôma về tra tấn trong tòa án riêng của mình. Không kể những sự kiện đáng tiếc đó, Hội Thánh luôn luôn dạy bổn phận phải nhân từ và thương xót; Hội Thánh đã cấm các giáo sĩ không được gây đổ máu. Thời gian gần đây, người ta thấy rõ là các biện pháp tàn bạo đó không cần thiết cho trật tự công cộng, cũng chẳng phù hợp với những quyền hợp pháp của con người. Trái lại, những biện pháp đó còn đưa đến những suy thoái tồi tệ nhất. Phải đấu tranh để hủy bỏ những biện pháp tàn bạo đó. Phải cầu nguyện cho các nạn nhân và các lý hình.
Tôn trọng người chết Số 2299 Phải lưu tâm và chăm sóc những người hấp hối để giúp họ sống những giây phút cuối đời của mình cách xứng đáng và bình an. Họ phải được thân nhân giúp đỡ bằng lời cầu nguyện. Những người này phải liệu sao cho bệnh nhân kịp thời lãnh nhận các bí tích để chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống.
Số 2300 Thi hài của những người đã qua đời phải được cư xử với lòng tôn trọng và với đức mến, trong đức tin và đức cậy vào sự phục sinh. Mai táng người chết là công việc của lòng thương xót đối với thân thể con người; việc đó tỏ lòng quý trọng con cái Thiên Chúa, là đền thờ của Chúa Thánh Thần.
Số 2301 Việc mổ và khám nghiệm tử thi có thể được chấp nhận về mặt luân lý, với lý do để điều tra pháp lý hoặc nghiên cứu khoa học. Việc hiến tặng nhưng không các bộ phận cơ thể sau khi chết là hợp pháp và có thể là có công phúc. Hội Thánh cho phép hỏa táng nếu việc này không biểu lộ sự hoài nghi về đức tin vào sự phục sinh của thân xác 65 .
III. BẢO VỆ HÒA BÌNH Hòa bình Số 2302 Khi nhắc lại điều răn: “Chớ giết người (Mt 5,21), Chúa chúng ta đòi chúng ta giữ trái tim bình an và Người tố cáo tính vô luân của việc giận dữ và sự căm ghét. Giận dữ là một ước muốn trả thù. “Ước muốn báo thù vì điều xấu của kẻ đáng bị phạt, là không hợp pháp”: nhưng bắt phải đền bù “nhằm sửa chữa lại các thói xấu và duy trì điều tốt của đức công bằng là điều đáng khen ngợi 66 . Nếu giận dữ đến độ chủ ý muốn giết chết hay làm bị thương nặng người lân cận, là xúc phạm đến đức mến một cách nghiêm trọng; đó là tội trọng. Chúa nói: “Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa (Mt 5,22).
Số 2303 Căm ghét có chủ ý là điều nghịch với đức mến. Căm ghét người lân cận là có tội, khi một người chủ ý muốn điều xấu cho người khác. Căm ghét người lân cận là có tội nặng, khi một người chủ ý muốn cho người khác bị thiệt hại nghiêm trọng. “Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,44-45).
Số 2304 Sự tôn trọng và sự phát triển đời sống con người đòi phải có hoà bình. Hoà bình không phải chỉ là vắng bóng chiến tranh, và không thể giản lược vào việc giữ được thế quân bình giữa các lực lượng đối nghịch nhau. Hoà bình không thể có được trên trái đất, nếu không có sự bảo vệ của cải của các nhân vị, không có sự truyền thông tự do giữa con người, không có sự tôn trọng phẩm giá của con người và của các dân tộc, không có sự chuyên chăm thực thi tình huynh đệ. Hoà bình là “sự ổn định của trật tự” 67 . Hoà bình là “sự nghiệp của đức công minh" (Is 32,17) và là hiệu quả của đức mến 68 .
Số 2305 Hòa bình trên trần thế là hình ảnh và hoa trái của bình an của Đức Kitô, “Thủ lãnh Hòa Bình thời Messia (Is 9,5). Nhờ máu đổ ra “trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù hận ngay trong thân xác Người, Người đã giao hoà loài người với Thiên Chúa và làm cho Hội Thánh trở thành bí tích hợp nhất nhân loại và kết hợp nhân loại với Thiên Chúa 69 . “Chính Người là bình an của chúng ta (Ep 2,14). Người tuyên bố: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình (Mt 5,9).
Số 2306 Những ai khước từ hành động bạo lực và đổ máu, sử dụng những phương tiện tự vệ vừa tầm những kẻ khá yếu đuối, để bảo vệ quyền lợi của con người, là những người làm chứng cho đức mến của Tin Mừng, miễn là điều này không phương hại đến các quyền lợi và bổn phận của những người khác và các tập thể khác. Họ làm chứng cách hợp pháp cho tính nghiêm trọng của những nguy cơ về thể lý và luân lý, khi sử dụng bạo lực, với những tàn phá và chết chóc của bạo lực 71 .
Tránh chiến tranh Số 2307 Điều răn thứ năm cấm chủ ý hủy hoại mạng sống con người. Vì mọi cuộc chiến đều kéo theo những tai hoạ và những bất công, nên Hội Thánh khẩn thiết thúc giục mỗi người cầu nguyện và hành động, để lòng nhân lành của Thiên Chúa giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ ngàn đời của chiến tranh 72 .
Số 2308 Mỗi công dân và mỗi người lãnh đạo đều buộc phải hành động để tránh chiến tranh. Tuy nhiên, “bao lâu nguy cơ chiến tranh tồn tại, bao lâu chưa có quyền bính quốc tế nào có thẩm quyền và có đủ sức mạnh, thì một khi đã tận dụng mọi phương thế dàn xếp ôn hòa, các chính phủ có thể được phép sử dụng quyền bảo vệ hợp pháp" 73 .
Số 2309 Phải xem xét cẩn thận các điều kiện tỉ mỉ để bảo vệ hợp pháp bằng sức mạnh quân sự. Một quyết định như thế rất nghiêm trọng, nên phải hội đủ các điều kiện nghiêm ngặt của tính hợp pháp về luân lý. Cùng một trật, đòi phải có: Thiệt hại do kẻ xâm lược gây ra cho quốc gia hoặc cho cộng đồng các quốc gia có tính lâu dài, nghiêm trọng và chắc chắn; Tất cả các phương thế khác để chấm dứt tình trạng này rõ ràng là bất khả hoặc vô hiệu; Phải hội đủ các điều kiện quan trọng để thành công; Việc sử dụng vũ khí không kéo theo những tai hại và hỗn loạn nghiêm trọng hơn tai hại ta đang cố loại trừ. Khả năng tàn phá của các phương tiện chiến tranh hiện đại là sức ép nghiêm trọng nhất phải được thẩm định trong điều kiện nầy. Trên đây là những yếu tố truyền thống được liệt kê trong học thuyết “chiến tranh chính đáng. Việc thẩm định các điều kiện đó để có tính hợp pháp về luân lý, thuộc về sự phán đoán khôn ngoan của những người có bổn phận về công ích.
Số 2310 Trong trường hợp này, công quyền có quyền và bổn phận đề ra cho các công dân những nghĩa vụ cần thiết để bảo vệ tổ quốc. Những ai phục vụ tổ quốc trong quân đội, là những người phụng sự cho an ninh và tự do của các dân tộc. Khi chu toàn đúng đắn nhiệm vụ của mình, họ thật sự góp phần vào công ích và vào việc gìn giữ hòa bình 74 .
Số 2311 Công quyền phải dự liệu một cách công bằng cho trường hợp những người, vì lý do lương tâm, từ chối sử dụng vũ khí, trong khi họ vẫn buộc phải phục vụ cộng đồng nhân loại bằng một hình thức khác 75 .
Số 2312 Hội Thánh và lý trí con người đều tuyên bố hiệu lực trường tồn của luật luân lý, trong thời gian xảy ra các cuộc xung đột có vũ trang. “Không phải vì chiến tranh đã chẳng may khai diễn, mà do đó các phía đối nghịch nhau được phép muốn làm gì thì làm” 76 .
Số 2313 Phải tôn trọng và đối xử cách nhân đạo với thường dân, thương binh và tù binh. Những hành động chủ ý nghịch với quyền của các dân tộc và với các nguyên tắc phổ quát của quyền đó, và cả các mệnh lệnh buộc thi hành những hành động đó, đều là tội ác. Sự tuân phục mù quáng không đủ để những ai tuân hành các mệnh lệnh đó được tha thứ. Như vậy, việc tiêu diệt một dân tộc, một quốc gia hoặc một nhóm dân thiểu số phải bị kết án như một tội trọng. Bổn phận luân lý đòi buộc phải chống lại các lệnh truyền “diệt chủng .
Số 2314 “Mọi hành động hiếu chiến nhằm tiêu diệt một cách không phân biệt toàn thể những thành phố hoặc những vùng rộng lớn cùng với dân cư ở đó, đều là tội ác chống lại Thiên Chúa và chính con người, phải bị kết án cách mạnh mẽ và không do dự” 77 . Nguy cơ của chiến tranh hiện đại là tạo dịp cho những người sở hữu các vũ khí khoa học, đặc biệt là vũ khí nguyên tử, sinh học hoặc hóa học, phạm những thứ tội ác như thế.
Số 2315 Thật là nghịch lý, nhiều người xem việc tích lũy vũ khí như một phương thế để can ngăn đối phương khỏi gây chiến. Họ coi đó là phương thế hữu hiệu nhất, khả dĩ bảo đảm hòa bình giữa các quốc gia. Về mặt luân lý, phải rất dè dặt đối với phương thức can ngăn này. Việc chạy đua vũ trang không bảo đảm được hòa bình. Việc đó không những không loại bỏ các nguyên nhân gây chiến, mà còn có nguy cơ làm cho các nguyên nhân đó trở thành trầm trọng hơn. Việc chi tiêu những khoản tiền khổng lồ để chuẩn bị vũ khí ngày càng tối tân, ngăn cản việc trợ giúp các dân tộc nghèo đói ; việc chi tiêu đó cản trở sự phát triển của các dân tộc. Tự trang bị vũ khí cách thái quá làm gia tăng những nguyên nhân xung đột và tạo thêm nguy cơ lây lan các xung đột.
Số 2316 Việc sản xuất và buôn bán vũ khí ảnh hưởng đến công ích của các quốc gia và của cộng đồng quốc tế. Vì vậy, các nhà cầm quyền có quyền và bổn phận quy định về vấn đề này. Những lợi nhuận ngắn hạn tư nhân hay công cộng không thể biện minh hợp pháp cho các tổ chức kinh doanh thúc đẩy bạo lực và xung đột giữa các quốc gia, và gây nguy hại cho lãnh vực luật pháp quốc tế 78 .
Số 2317 Những bất công và bất bình đẳng thái quá trong lãnh vực kinh tế và xã hội, lòng tham lam, sự ngờ vực và tính kiêu căng đang sinh sôi nảy nở giữa người ta và các quốc gia, không ngừng đe dọa nền hòa bình và gây ra chiến tranh. Bất cứ điều gì được thực hiện nhằm khắc phục những xáo trộn này, đều góp phần vào việc xây dựng hoà bình và tránh chiến tranh: “Bởi vì con người là những kẻ tội lỗi, nên nguy cơ chiến tranh còn đe doạ họ, và sẽ còn đe doạ cho tới cuộc Ngự đến của Đức Kitô. Tuy nhiên, bởi vì là những người được liên kết bằng đức mến, con người thắng vượt được tội lỗi, nên bạo lực sẽ bị thắng vượt, cho tới khi lời sau đây được hoàn thành: Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến' (Is 2,4)” 79 .
TÓM LƯỢC Số 2318 “Chính Thiên Chúa nắm trong tay hồn của mọi sinh vật cũng như hơi thở của tất cả người phàm” (G 12,10).
Số 2319 Toàn bộ đời sống con người, từ lúc tượng thai cho đến khi chết, là điều linh thánh, bởi vì Thiên Chúa muốn dựng nên con người vì chính họ, theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa hằng sống và thánh thiện.
Số 2320 Giết một thụ tạo nhân linh là chống lại một cách nghiêm trọng phẩm giá con người và sự thánh thiện của Đấng Tạo Hoá.
Số 2321 Luật cấm giết người không huỷ bỏ quyền làm cho kẻ xâm phạm bất chính mất khả năng tác hại. Sự bảo vệ hợp pháp là một bổn phận quan trọng của những người có trách nhiệm về mạng sống người khác hay công ích.
Số 2322 Ngay từ lúc tượng thai, đứa bé đã có quyền được sống. Việc phá thai trực tiếp, nghĩa là, hoặc được muốn như mục đích hoặc được muốn như phương tiện, đều là một hành vi “ô nhục” 80 , nghịch lại luật luân lý một cách nghiêm trọng. Theo giáo luật, Hội Thánh phạt vạ tuyệt thông cho tội ác chống lại sự sống con người này.
Số 2323 Vì phải được đối xử như một nhân vị từ lúc tượng thai, nên phôi thai phải được bảo vệ, chăm sóc và chữa trị trong sự toàn vẹn của nó, cũng như bất cứ thụ tạo nhân linh nào khác.
Số 2324 Cái chết êm dịu (euthanasia) có chủ ý, với bất cứ hình thức và lý do nào, đều là tội giết người. Tội này nghịch lại cách nghiêm trọng với phẩm giá của nhân vị, và với sự tôn trọng Thiên Chúa hằng sống, Đấng Tạo Hoá của con người.
Số 2325 Tự sát là nghịch lại cách nghiêm trọng với đức công bằng, đức cậy và đức mến. Điều răn thứ năm cấm tự sát.
Số 2326 Gương xấu là một trọng tội, nếu bằng hành động hay bằng sự thiếu sót, nó chủ ý lôi kéo tha nhân đến chỗ phạm trọng tội.
Số 2327 Vì mọi cuộc chiến đều kéo theo những tai họa và những bất công, nên chúng ta phải làm bất cứ điều gì có thể một cách hữu lý, để tránh chiến tranh. Hội Thánh cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi ôn dịch, nạn đói và chiến tranh".
Số 2328 Hội Thánh và lý trí con người đều tuyên bố hiệu lực trường tồn của luật luân lý, trong thời gian xảy ra các cuộc xung đột có vũ trang. Những hành động chủ ý nghịch với quyền của các dân tộc và với các nguyên tắc phổ quát của quyền đó, đều là tội ác.
Số 2329 Việc chạy đua vũ trang là một tai hoạ hết sức nghiêm trọng cho nhân loại và xúc phạm đến người nghèo một cách không thể tha thứ được 81 .
Số 2330 “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa (Mt 5,9). Mục 6: Điều Răn Thứ Sáu Lời Chúa “Ngươi không được ngoại tình (Xh 20,14) 82 . Anh em đã nghe luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi (Mt 5,27-28).
I. “THIÊN CHÚA TẠO DỰNG CON NGƯỜI, CÓ NAM CÓ NỮ..." Số 2331 “Thiên Chúa là tình yêu và nơi Ngài, Ngài sống mầu nhiệm của sự hiệp thông ngôi vị trong tình yêu. Khi tạo dựng bản tính con người theo hình ảnh mình, có nam có nữ, Thiên Chúa khắc ghi vào bản tính ấy ơn gọi, cùng với khả năng và trách nhiệm sống trong tình yêu và sự hiệp thông 83 . “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh mình.... Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ (St 1,27). “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều” (St 1,28). “Ngày Thiên Chúa tạo dựng con người, Thiên Chúa làm ra con người giống như Thiên Chúa. Chúa tạo dựng con người có nam có nữ, Chúa ban phúc lành cho họ và đặt tên cho họ là người , ngày họ được tạo dựng (St 5,1-2).
Số 2332 Tính dục ảnh hưởng trên mọi phương diện của nhân vị, trong sự hợp nhất của linh hồn và thân xác của nó. Tính dục đặc biệt liên quan đến sức mạnh tình cảm, khả năng yêu thương và sinh sản, và một cách tổng quát hơn, khả năng kết nối các mối dây hiệp thông với người khác.
Số 2333 Mỗi người, nam cũng như nữ, phải nhận biết và chấp nhận căn tính tính dục của mình. Sự khác biệt và sự bổ sung về thể lý, luân lý và tinh thần hướng đến lợi ích của hôn nhân và sự phát triển đời sống gia đình. Sự hài hòa của đôi phối ngẫu và của xã hội tùy thuộc phần nào vào cách thực hiện trong đời sống: sự bổ sung giữa các phái tính, sự cần đến nhau và sự trợ giúp lẫn nhau.
Số 2334 “Khi tạo dựng con người có nam có nữ, Thiên Chúa đã ban cho người nam và người nữ sự bình đẳng về nhân phẩm” 84 . “Con người là một nhân vị, người nam và người nữ bình đẳng với nhau: cả hai được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa hữu ngã (personalis)" 85 .
Số 2335 Mỗi một trong hai phái tính, bình đẳng về phẩm giá, dù theo cách thức khác nhau, đều là hình ảnh của quyền năng và lòng yêu thương của Thiên Chúa. Sự kết hợp giữa người nam và người nữ trong hôn nhân là một cách nào đó, nơi thân xác, mô phỏng lòng quảng đại và sự phong phú của Đấng Tạo Hoá: “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24). Chính từ sự kết hợp này xuất phát mọi thế hệ con người 86 .
Số 2336 Chúa Giêsu đã đến phục hồi cho thụ tạo tình trạng tinh tuyền nguyên thủy của nó. Trong Bài giảng trên núi, Người đã giải thích cách chính xác ý định của Thiên Chúa: “Anh em đã nghe luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,27-28). “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly 87 . Truyền thống của Hội Thánh đã hiểu: điều răn thứ sáu đề cập đến mọi lãnh vực về tính dục của con người.
II. ƠN GỌI SỐNG KHIẾT TỊNH Số 2337 Sự khiết tịnh là việc hoà nhập thành công tính dục trong nhân vị, và qua đó, là sự thống nhất nội tâm của con người là thực tại vừa thể xác, vừa tinh thần. Tính dục là nơi biểu lộ sự tuỳ thuộc của con người vào thế giới vật chất và sinh học; nó trở thành cá vị (personalis) và thật sự nhân bản (humana) khi gắn với tương quan giữa người với người, trong việc hiến thân cho nhau trọn vẹn và vĩnh viễn giữa người nam và người nữ. Như vậy, nhân đức khiết tịnh bao gồm toàn bộ nhân vị và sự trọn vẹn của việc hiến thân.
Toàn bộ nhân vị Số 2338 Người khiết tịnh giữ được toàn bộ sức mạnh của sự sống và tình yêu, đã được đặt nơi con người mình. Sự toàn vẹn này bảo đảm sự thống nhất của nhân vị, chống lại mọi thái độ làm tổn thương đến sự thống nhất đó. Nó không chấp nhận cuộc sống hai mặt, lời nói hai ý 88 .
Số 2339 Đức khiết tịnh bao hàm việc tập luyện sự tự chủ, tức là một cách tập luyện để sống sự tự do của con người. Lựa chọn là điều rõ ràng: con người hoặc chế ngự các đam mê của mình và được bình an; hoặc để chúng bắt mình làm nô lệ và trở nên bất hạnh 89 . “Phẩm giá con người đòi họ phải hành động theo một sự lựa chọn có ý thức và tự do, một cách cá vị, nghĩa là được thúc đẩy và được hướng dẫn từ bên trong, chứ không phải dưới sự thôi thúc mù quáng bên trong hoặc chỉ dưới sự cưỡng chế bên ngoài. Con người đạt đến phẩm giá đó khi, nhờ tự giải thoát khỏi mọi nô dịch cho các đam mê, nhờ tự do lựa chọn điều thiện, con người theo đuổi mục đích của mình và một cách hữu hiệu, tìm được cho mình sự trợ giúp thích hợp và sự chuyên cần thành thạo” 90 .
Số 2340 Ai muốn trung thành với những lời hứa khi lãnh Phép Rửa và chống lại các cơn cám dỗ, phải dùng những phương thế tương ứng: phải biết mình, thực tập việc khổ chế thích hợp với hoàn cảnh mình đang sống, tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa, thực hành các nhân đức luân lý và trung thành với việc cầu nguyện. “Nhờ sự tiết dục, chúng ta được quy tụ lại và tìm lại được sự thống nhất bản thân, mà từ đó chúng ta đã bị phân tán thành nhiều mảnh 91 .
Số 2341 Đức khiết tịnh phụ thuộc nhân đức trụ là đức tiết độ, là nhân đức dùng lý trí để hướng dẫn các đam mê và các ước muốn của giác quan con người.
Số 2342 Sự tự chủ là một công việc bền bỉ lâu dài, không bao giờ được coi như đã đạt tới một lần là xong. Sự tự chủ bao hàm sự cố gắng đi cố gắng lại trong mọi độ tuổi của cuộc đời. Có thể ở một số giai đoạn nào đó đòi phải cố gắng nhiều hơn, như khi nhân cách được hình thành, trong tuổi thiếu niên và thanh niên (x. Tt 2,1-6).
Số 2343 Đức khiết tịnh cũng có những quy luật tăng trưởng, phải trải qua những bất toàn và rất thường là tội lỗi nữa. Con người khiết tịnh và say mê nhân đức “ngày qua ngày, như được hình thành bằng nhiều lựa chọn tự do: nhờ đó họ nhận biết, yêu mến và chu toàn điều thiện luân lý qua những giai đoạn tăng trưởng của họ 93 .
Số 2344 Đức khiết tịnh là một công việc hết sức cá vị, nhưng cũng bao hàm một nỗ lực về văn hóa, bởi vì quả thật “sự thăng tiến của nhân vị và sự phát triển của chính xã hội lệ thuộc lẫn nhau 94 . Đức khiết tịnh giả thiết sự tôn trọng đối với các quyền con người, đặc biệt quyền được đón nhận thông tin và sự giáo dục, để biết tôn trọng các giá trị luân lý và tinh thần của đời sống con người.
Số 2345 Khiết tịnh là một nhân đức luân lý. Nhưng đó cũng là hồng ân của Thiên Chúa, là ân sủng, là hoa trái của Thần Khí 95 . Chúa Thánh Thần ban cho người đã được tái sinh nhờ nước Rửa Tội, có khả năng mô phỏng sự trong sạch của Đức Kitô 96 .
Sự trọn vẹn của việc hiến thân Số 2346 Đức mến là mô thể của mọi nhân đức. Dưới ảnh hưởng của đức mến, đức khiết tịnh như là trường dạy việc hiến thân. Sự tự chủ được quy hướng tới sự tự hiến. Đức khiết tịnh hướng dẫn người thực thi nhân đức đó, để họ trở thành chứng nhân về lòng trung tín và yêu thương của Thiên Chúa trước mặt người lân cận.
Số 2347 Đức khiết tịnh nảy nở trong tình bằng hữu. Nhân đức này chỉ cho người môn đệ biết làm thế nào để bước theo và bắt chước Đấng đã chọn chúng ta như bạn hữu riêng của Người, đã tự hiến trọn vẹn cho chúng ta và cho chúng ta tham dự vào thần tính của Người. Đức khiết tịnh là lời hứa của sự bất tử. Đức khiết tịnh được biểu lộ cách đặc biệt trong tình bằng hữu đối với người lân cận. Tình bằng hữu, được triển nở giữa những người cùng phái hoặc khác phái, là điều thiện hảo lớn lao cho mọi người. Tình bằng hữu dẫn đến sự hiệp thông tinh thần.
Những cách sống khiết tịnh Số 2348 Mọi người đã được rửa tội đều được kêu gọi sống khiết tịnh. Kitô hữu đã mặc lấy Đức Kitô, khuôn mẫu của mọi đời sống khiết tịnh. Tất cả các Kitô hữu đều được kêu gọi sống đời khiết tịnh tùy theo bậc sống riêng của mình. Khi lãnh nhận Phép Rửa, Kitô hữu đã cam kết điều khiển sức mạnh tình cảm của mình trong đức khiết tịnh.
Số 2349 “Người ta phải được tô điểm bằng đức khiết tịnh tuỳ theo bậc sống khác nhau: có người thì tuyên giữ trinh khiết hay độc thân thánh hiến cho Thiên Chúa, nhờ cách thức trổi vượt này, họ có thể kết hợp với Thiên Chúa cách dễ dàng hơn nhờ một trái tim không chia sẻ; có người lại sống theo hình thức đã được luật luân lý đặt ra cho mọi người, hoặc được kết hợp bằng hôn nhân hoặc sống độc thân” 99 . Những người đã được liên kết bằng hôn nhân được kêu gọi sống đức khiết tịnh phu phụ; còn những người khác thì vun trồng đức khiết tịnh trong sự tiết dục. “Có ba hình thức sống đức khiết tịnh: một là của bậc phu phụ, thứ đến của người góa bụa và thứ ba là của kẻ đồng trinh. Chúng ta không ca tụng hình thức này mà loại bỏ hình thức khác.... Chính ở điểm này, kỷ luật của Hội Thánh rất phong phú 100 .
Số 2350 Những người đã đính hôn được kêu gọi vun trồng đức khiết tịnh trong sự tiết dục. Trong thời gian thử thách này, họ sẽ học biết tôn trọng lẫn nhau, tập chung thủy và hy vọng được đón nhận nhau từ Thiên Chúa. Họ phải dành những cách biểu lộ lòng âu yếm, là đặc trưng của tình yêu phu phụ, cho đến lúc đã thành hôn. Họ phải giúp nhau lớn lên trong sự khiết tịnh.
Những xúc phạm nghịch đức khiết tịnh Số 2351 Mê dâm dục là sự ham muốn vô trật tự hay hưởng thụ vô độ khoái lạc tình dục. Khoái lạc tình dục là vô trật tự về mặt luân lý, khi chỉ tìm khoái lạc để hưởng thụ, chứ không nhằm mục đích sinh sản và kết hợp trong tình yêu.
Số 2352 Thủ dâm hiểu là việc chủ ý kích thích cơ quan sinh dục để đạt được khoái lạc tình dục. “Dựa theo truyền thống bền vững, cả Huấn quyền cả cảm thức luân lý của các Kitô hữu, không hoài nghi khẳng định rằng, thủ dâm là một hành vi tự bản chất là vô trật tự cách nghiêm trọng”. “Với bất cứ lý do nào, việc chủ ý sử dụng khả năng tình dục ngoài quan hệ phu phụ đúng đắn cũng là sai mục đích của nó”. Ở đây là tìm khoái lạc tình dục bên ngoài quan hệ tình dục, “theo luật luân lý đòi hỏi, là quan hệ thực hiện việc hiến thân trọn vẹn cho nhau và việc sinh sản con người trong khuôn khổ của tình yêu đích thực” 101 . Để có phán đoán đúng đắn về trách nhiện luân lý của đương sự, cũng như đưa ra một đường hướng mục vụ, cần lưu ý đến tình trạng thiếu trưởng thành tình cảm, áp lực của các thói quen đã có, tâm trạng lo âu cũng như những yếu tố khác về tâm lý và xã hội. Các nhân tố trên có thể làm cho sự quy tội luân lý được giảm nhẹ, thậm chí đến mức tối thiểu.
Số 2353 Gian dâm là quan hệ xác thịt ngoài hôn nhân giữa một người nam và một người nữ còn tự do. Tội này trái nghịch cách nghiêm trọng với nhân phẩm và tính dục của con người, vốn tự nhiên quy hướng tới lợi ích của đôi phối ngẫu cũng như tới việc sinh sản và giáo dục con cái. Ngoài ra, gian dâm còn là một gương xấu nghiêm trọng, khi làm băng hoại giới trẻ.
Số 2354 Hình ảnh khiêu dâm cốt tại việc đem những hành vi tính dục, có thật hay giả vờ, ra khỏi vòng thân mật của những người trong cuộc, chủ ý phơi bày cho những người khác. Hình ảnh khiêu dâm xúc phạm đến đức khiết tịnh, bởi vì làm biến chất hành vi phu phụ, sự tự hiến thân mật cho nhau của đôi phối ngẫu. Chúng xúc phạm cách nghiêm trọng đến phẩm giá của những người tham gia vào đó (diễn viên, kẻ kinh doanh, khán giả), bởi vì người này trở thành đối tượng mua vui thô lỗ và là nguồn lợi nhuận bất chính cho người khác. Hình ảnh khiêu dâm dìm hết người này đến người khác vào sự ảo tưởng của thế giới giả trá. Đó là một trọng tội. Chính quyền phải ngăn cấm việc sản xuất và phổ biến những hình ảnh khiêu dâm này.
Số 2355 Mại dâm làm tổn thương phẩm giá của người làm nghề này, biến phẩm giá đó thành dụng cụ cho khoái lạc xác thịt. Người trả tiền [mua dâm] phạm tội cách nghiêm trọng nghịch với chính bản thân: họ phá huỷ đức khiết tịnh mà bí tích Rửa Tội đòi buộc, và làm ô uế thân xác của mình là đền thờ Chúa Thánh Thần 102 . Mại dâm là một tai hoạ cho xã hội. Thường thì liên quan đến người nữ, nhưng cũng có người nam, thiếu nhi hoặc thiếu niên (trong hai trường hợp sau, lại có thêm tội gây gương xấu). Mặc dù hành nghề mại dâm luôn là trọng tội, nhưng sự khốn cùng, những hăm doạ và sự thúc đẩy của xã hội có thể làm giảm thiểu tính quy tội của tội lỗi.
Số 2356 Hiếp dâm là dùng sức mạnh, với bạo lực, bắt kẻ khác quan hệ tính dục với mình. Tội này làm tổn thương đức công bằng và đức mến. Hiếp dâm xúc phạm sâu xa đến quyền của mỗi người là quyền được tôn trọng, quyền tự do và quyền được toàn vẹn về thể lý và luân lý. Tội này gây thương tổn nghiêm trọng, có thể ảnh hưởng đến suốt cuộc đời của nạn nhân. Hành vi này luôn là một điều xấu từ bản chất. Hiếp dâm lại càng nghiêm trọng hơn, khi cha mẹ (x. tội loạn luân) hay những người giáo dục hiếp dâm các trẻ em được ủy thác cho họ.
Đức khiết tịnh và sự đồng tính luyến ái Số 2357 Đồng tính luyến ái là những liên hệ giữa những người nam hay những người nữ, cảm thấy sự hấp dẫn tính dục, độc chiếm (exclusive) hoặc vượt trội (praevalenter) đối với những người cùng phái tính. Đồng tính luyến ái mang những hình thức rất khác nhau qua các thế kỷ và các nền văn hóa. Nguồn gốc tâm thần của hiện tượng này phần lớn vẫn chưa giải thích được. Dựa trên Thánh Kinh, vốn xem chúng như những suy đồi nghiêm trọng 103 , truyền thống Hội Thánh luôn tuyên bố: “Các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là vô trật tự” 104 . Chúng nghịch với luật tự nhiên. Chúng khép kín hành vi tính dục khỏi việc ban tặng sự sống. Chúng không phát xuất từ tính bổ sung thật sự về tình cảm và tính dục. Những hành vi này không thể chấp nhận được trong bất cứ trường hợp nào.
Số 2358 Một số không nhỏ những người nam và người nữ có khuynh hướng đồng tính luyến ái thâm căn. Đối với đa số những người này, sự nghiêng chiều vô trật tự một cách khách quan đó, là một thử thách. Họ phải được đón nhận với sự tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Phải tránh bất cứ dấu hiệu phân biệt đối xử bất công nào đối với họ. Những người này được kêu gọi thực hiện ý Thiên Chúa trong cuộc sống của mình, và, nếu là Kitô hữu, họ được kêu gọi kết hợp các khó khăn họ có thể gặp phải do hoàn cảnh của mình, với hy lễ thập giá của Chúa.
Số 2359 Những người đồng tính luyến ái được kêu gọi sống khiết tịnh. Nhờ các nhân đức giúp tự chủ dạy cho biết sự tự do nội tâm, và có khi nhờ sự nâng đỡ của tình bằng hữu vô vị lợi, nhờ việc cầu nguyện và ân sủng bí tích, chính họ có thể và phải dần dần và cương quyết tiến đến sự trọn hảo Kitô giáo.
III. TÌNH YÊU CỦA ĐÔI PHỐI NGẪU Số 2360 Tính dục quy hướng tới tình yêu phu phụ giữa người nam và người nữ. Trong hôn nhân, sự ái ân thể xác của đôi phối ngẫu trở thành dấu chỉ và bảo chứng của sự hiệp thông tinh thần. Giữa những người đã chịu Phép Rửa, dây liên kết hôn nhân được thánh hóa bằng một bí tích.
Số 2361 “Tính dục..., qua đó người nam và người nữ hiến thân cho nhau bằng những hành vi riêng và đặc trưng của đôi phối ngẫu, không chỉ là một cái gì đó thuần túy sinh học, nhưng nó đụng chạm đến phần thâm sâu nhất của nhân vị. Tính dục chỉ được thực hiện một cách nhân bản đích thực, nếu nó là một phần để hoàn thành tình yêu, qua đó người nam và người nữ cam kết hiến thân trọn vẹn cho nhau cho đến chết” 105 . “Tôbia ngồi dậy, ra khỏi giường và nói với Sara: 'Đứng lên, em! Chúng ta hãy cầu nguyện nài xin Chúa để Ngài xót thương và ban ơn cứu độ cho chúng ta. Cô đứng lên, rồi cả hai bắt đầu cầu nguyện và nài xin cho mình được cứu độ. Tôbia bắt đầu như sau: Lạy Thiên Chúa của tổ tiên chúng con, xin chúc tụng Chúa.... Chính Chúa đã dựng nên ông Ađam, dựng nên cho ông một người trợ giúp và nâng đỡ là bà Evà, vợ ông. Và dòng dõi loài người đã sinh ra từ hai ông bà. Chính Chúa đã nói: Con người ở một mình thì không tốt, Ta sẽ làm cho nó một người trợ giúp giống như nó. Giờ đây, không phải vì lòng dục mà con lấy em con đây, nhưng vì lòng chân thành. Xin Chúa đoái thương con và em con, cho chúng con được chung sống bên nhau đến tuổi già'. Rồi họ đồng thanh nói: 'Amen, Amen!'. Sau đó, họ ngủ luôn cho đến sáng” (Tb 8,4-9).
Số 2362 “Những hành vi..., qua đó đôi phối ngẫu kết hợp với nhau cách thân mật và khiết tịnh, đều ngay chính và xứng đáng, và khi được thực hiện cách thật sự nhân bản, những hành vi ấy biểu thị và khích lệ sự hiến thân cho nhau, nhờ đó hai người làm cho nhau thêm phong phú trong tâm tình vui mừng và biết ơn” 106 . Tính dục là nguồn mạch của sự hoan lạc và thú vui. “Chính Đấng Tạo Hoá cũng đã sắp đặt để, trong nhiệm vụ sinh sản, đôi phối ngẫu gặp được thú vui và hạnh phúc cả thân xác cả tinh thần. Vì vậy, đôi phối ngẫu chẳng làm điều gì xấu, khi tìm kiếm và tận hưởng thú vui đó. Họ đón nhận những gì Đấng Tạo Hoá đã nhắm ban cho họ. Tuy nhiên, đôi phối ngẫu cũng phải biết giữ mình trong những giới hạn của sự tiết độ chính đáng” 107 .
Số 2363 Nhờ sự kết hợp của đôi phối ngẫu, mục đích kép của hôn nhân được thể hiện: lợi ích của chính đôi phối ngẫu và sự lưu truyền sự sống. Không thể tách biệt hai ý nghĩa hoặc hai giá trị này của hôn nhân, mà không làm biến chất đời sống tinh thần của đôi phối ngẫu cũng như phương hại đến những lợi ích của hôn nhân và tương lai của gia đình. Như vậy tình yêu phu phụ của người nam và người nữ được đặt dưới một đòi hỏi kép là sự chung thủy và sự sinh sản con cái.
Sự chung thuỷ phu phụ Số 2364 Đôi phối ngẫu làm nên “cộng đồng thân mật của sự sống và tình yêu phu phụ, đã được Đấng Tạo Hoá thiết lập và ban cho những luật lệ riêng. Cộng đồng đó được thiết lập bằng giao ước của đôi phối ngẫu, nghĩa là bằng sự ưng thuận cá vị không thể thu hồi” 108 . Cả hai hiến thân cho nhau cách vĩnh viễn và trọn vẹn. Họ không còn là hai, nhưng đã trở thành một thân xác duy nhất. Giao ước đã được đôi phối ngẫu ký kết cách tự do, buộc họ có bổn phận phải bảo tồn sự duy nhất và bất khả phân ly của giao ước đó 109 . “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly" (Mc 10,9) 110 .
Số 2365 Lòng chung thuỷ diễn tả sự kiên trì tuân giữ lời đã cam kết. Thiên Chúa là Đấng trung tín. Bí tích Hôn Phối dẫn đưa người nam và người nữ vào sự trung tín của Đức Kitô đối với Hội Thánh Người. Nhờ sự khiết tịnh phu phụ, họ làm chứng về mầu nhiệm đó trước mặt trần gian. Thánh Gioan Kim Khẩu gợi ý cho các bạn trẻ lập gia đình nói những lời sau đây với vợ họ: “Anh ôm em và anh yêu em, anh quý em hơn cả linh hồn mình. Vì cuộc sống hiện tại chẳng là gì hết, nên anh cầu nguyện, anh nài xin, và anh làm mọi sự, sao cho chúng ta được coi là xứng đáng khi sống cuộc sống hiện tại, hầu chúng ta cũng có thể được như vậy trong cuộc sống đời sau, để được kết hợp với nhau trong sự an toàn trọn hảo.... Anh đặt tình yêu của em lên trên tất cả; và sẽ chẳng có gì làm cho anh khổ tâm hơn là anh phải lìa xa em" 111 .
Sự sinh sản trong hôn nhân Số 2366 Sự sinh sản là một hồng ân, một mục đích của hôn nhân, bởi vì tình yêu phu phụ tự nhiên hướng về việc sinh sản. Đứa con không phải là cái gì từ bên ngoài được thêm vào tình yêu hỗ tương của đôi phối ngẫu; nó xuất hiện ngay ở trọng tâm của việc hai người hiến thân cho nhau; nó là hoa trái và là sự hoàn thành của việc hiến thân cho nhau đó. Như vậy Hội Thánh, vốn “đứng về phe sự sống 112 , dạy rằng “bất cứ hành vi hôn nhân nào, tự nó, vẫn luôn được nhắm đến việc sinh sản sự sống con người” 113 . “Đạo lý này, thường được Huấn quyền trình bày, dựa trên sự liên kết bất khả phân ly, do Thiên Chúa ấn định, điều mà con người không được phép tự ý cắt đứt, giữa ý nghĩa kết hợp và ý nghĩa sinh sản, cả hai đều thuộc về một hành vi phu phụ” 114 .
Số 2367 Là những người được kêu gọi trao tặng sự sống, đôi phối ngẫu tham dự vào quyền năng tạo dựng và tình phụ tử của Thiên Chúa 115 . "Trong bổn phận lưu truyền sự sống con người và giáo dục, điều phải được coi như sứ vụ riêng của mình, đôi phối ngẫu biết rằng mình là những cộng tác viên của tình yêu Thiên Chúa và như những người diễn đạt tình yêu của Ngài. Vì vậy, họ sẽ chu toàn nhiệm vụ của mình bằng trách nhiệm của một con người và của một Kitô hữu” 116 .
Số 2368 Một khía cạnh đặc biệt của trách nhiệm liên quan đến việc điều hòa sinh sản. Khi có lý do chính đáng 117 , đôi phối ngẫu có thể muốn tách rời khoảng cách các lần sinh con. Chính họ có bổn phận phải chứng thực rằng lựa chọn đó của họ không do sự ích kỷ mù quáng, nhưng là một lựa chọn phù hợp với lòng quảng đại chính đáng của tình phụ tử có trách nhiệm. Ngoài ra, họ phải hành động theo những tiêu chuẩn khách quan của luân lý: “Khi cần hòa hợp tình yêu phu phụ với việc sinh sản con cái có trách nhiệm, phải ý thức rằng giá trị luân lý của hành động không chỉ lệ thuộc vào ý muốn thành thực và việc cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định theo những tiêu chuẩn khách quan, rút ra từ bản tính của nhân vị và bản chất của các hành vi nơi nhân vị: những tiêu chuẩn đó tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự hiến thân cho nhau và của việc sinh sản con cái, trong bối cảnh tình yêu đích thực. Đó là điều không thể thực hiện được nếu không thực tâm vun trồng đức khiết tịnh phu phụ 118 .
Số 2369 "Khi duy trì hai khía cạnh căn bản là kết hợp và sinh sản, hành vi phu phụ giữ được toàn vẹn ý nghĩa của tình yêu hỗ tương và chân thực, và sự quy hướng của tình yêu đó về nhiệm vụ hết sức cao cả là làm cha làm mẹ” 119 .
Số 2370 Sự tiết dục từng thời kỳ, những phương pháp điều hòa sinh sản dựa trên việc tự quan sát và chu kỳ những thời gian không thể thụ thai 120 , là phù hợp với các tiêu chuẩn khách quan của luân lý. Những phương pháp này tôn trọng thân thể của đôi phối ngẫu, khuyến khích họ âu yếm nhau và cổ võ cho việc giáo dục về tự do đích thực. Trái lại, tự bản chất đều là xấu, “bất cứ hành vi nào trước, trong, hoặc sau cuộc trao đổi phu phụ, nhằm mục đích hay tạo phương thế ngăn cản sự sinh sản” 121 . “Như thế, thay vì là một ngôn ngữ tự nhiên diễn tả sự hiến thân hỗ tương và trọn vẹn giữa đôi phối ngẫu, việc ngăn cản sự thụ thai đưa ra một ngôn ngữ biểu lộ sự mâu thuẫn khách quan, rõ ràng không còn phải là sự hiến thân cho nhau cách trọn vẹn nữa: từ đó, không những có sự khước từ tích cực không mở ngỏ cho sự sống, mà còn có sự giả tạo về chân lý nội tại của chính tình yêu phu phụ, một tình yêu hướng tới sự hiến thân cho nhau bằng toàn bộ nhân vị.... Sự khác biệt về nhân học đồng thời về luân lý giữa việc ngăn cản sự thụ thai với việc tôn trọng những khoảng cách thời gian... bao hàm hai loại quan niệm về nhân vị và về tính dục, không thể kết hợp hai quan niệm đó với nhau" 122 .
Số 2371 "Ngoài ra, mọi người đều phải ý thức rằng sự sống con người và nhiệm vụ lưu truyền sự sống không chỉ bị giới hạn ở đời này: việc đánh giá chân thật và ý nghĩa đầy đủ của chúng chỉ có thể hiểu được khi quy chiếu về vận mệnh vĩnh cửu của con người” 123 .
Số 2372 Nhà Nước có trách nhiệm về sự thịnh vượng của các công dân. Trên danh nghĩa này, Nhà Nước can thiệp để định hướng sự gia tăng dân số là điều hợp pháp. Nhà Nước có thể làm điều đó qua việc thông tin khách quan và tôn trọng tự do, nhưng không được dùng biện pháp độc tài và cưỡng bách. Nhà Nước không thể thay thế cách hợp pháp sáng kiến của đôi phối ngẫu, là những người đầu tiên có trách nhiệm về việc sinh sản và giáo dục con cái của họ 124 . Trong lãnh vực này, quyền bính không được can thiệp bằng những phương thế trái với luật luân lý.
Con cái là tặng phẩm của Thiên Chúa Số 2373 Sách Thánh và thực hành truyền thống của Hội Thánh thấy trong những gia đình đông con một dấu chỉ của sự chúc lành thần linh và lòng quảng đại của cha mẹ 125 .
Số 2374 Nỗi đau khổ của những đôi phối ngẫu kết hôn mà không thể sinh con thật là to lớn. “Ông Abraham thưa: Lạy Chúa là Chúa Thượng, Chúa sẽ ban cho con cái gì? Con ra đi mà không con cái" (St 15,2). Bà Rakhel nói với chồng mình là Giacob: "Cho tôi có con đi, không thì tôi chết mất!” (St 30,1).
Số 2375 Những nghiên cứu nhằm giảm thiểu các trường hợp vô sinh của con người phải được khuyến khích, nếu chúng phục vụ “con người, các quyền bất khả nhượng cũng như lợi ích đích thực và toàn vẹn của con người, đúng theo kế hoạch và ý muốn của Thiên Chúa" 126 .
Số 2376 Những kỹ thuật phá vỡ liên hệ phụ mẫu qua sự can thiệp của một người ngoài cuộc hôn nhân (cho tinh dịch hoặc noãn bào, cho mượn tử cung) là những hành vi đáng hổ thẹn cách nghiêm trọng. Những kỹ thuật này (thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo khác nguồn) vi phạm quyền của đứa con, là phải được sinh ra do cha và mẹ được biết là đã chính thức kết hôn. Những kỹ thuật này phản lại “quyền độc hữu [của đôi phối ngẫu], là chỉ nhờ nhau mà cả hai mới được làm cha, làm mẹ” 127 .
Số 2377 Nếu được thực hiện bên trong hôn nhân (thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo cùng nguồn), những kỹ thuật này có lẽ sẽ ít tổn hại hơn; nhưng về mặt luân lý, chúng vẫn không thể được chấp nhận. Chúng tách rời hành vi tính dục khỏi hành vi sinh sản. Hành vi đặt nền cho sự hiện hữu của đứa con không còn là hành vi hiến thân cho nhau của hai nhân vị nữa, nhưng lại là hành vi “trao sự sống và căn tính của phôi thai con người cho quyền lực của các bác sĩ và các nhà sinh học, và như vậy thiết lập một sự thống trị nào đó của kỹ thuật trên nguồn gốc và số phận của nhân vị. Sự thống trị như vậy, tự bản chất, đi ngược với phẩm giá và sự bình đẳng, những điều đó phải là chung cho cả cha mẹ lẫn con cái” 128 . “Về phương diện luân lý, việc sinh sản này mất đi sự hoàn hảo riêng của nó, khi nó không được nhắm tới như là kết quả của hành vi phu phụ, hoặc hành vi kết hợp riêng của đôi phối ngẫu.... Ngoài ra, chỉ có sự tôn trọng mối dây liên kết giữa những ý nghĩa của hành vi phu phụ và sự tôn trọng tính thống nhất của hữu thể nhân linh mới làm cho sự sinh sản xứng hợp với phẩm giá con người” 129 .
Số 2378 Đứa con không phải là một của nợ (debitum), nhưng là một tặng phẩm (donum). “Tặng phẩm tuyệt hảo của hôn nhân” là một nhân vị. Đứa con không thể được coi như một vật sở hữu, như người ta thường nghĩ là mình có “quyền có con". Trong lãnh vực này, chỉ đứa con mới thật sự có những quyền: “quyền được hiện hữu với tư cách là hoa trái phát xuất từ hành vi riêng của tình yêu phu phụ của cha mẹ nó, chính nó có quyền được tôn trọng như một nhân vị ngay từ lúc mới tượng thai" 130 .
Số 2379 Tin Mừng cho thấy sự vô sinh thể lý không phải là một điều xấu tuyệt đối. Đôi phối ngẫu nào, sau khi đã tận dụng mọi trợ giúp chính đáng của y khoa, vẫn phải chịu nỗi đau khổ vô sinh, hãy kết hợp với thập giá của Chúa, là nguồn mạch mọi sự sinh sôi nảy nở thiêng liêng. Họ có thể nói lên lòng quảng đại của mình, bằng cách nhận làm nghĩa tử những đứa trẻ bị bỏ rơi và bằng cách tham gia việc phục vụ tha nhân.
IV. NHỮNG XÚC PHẠM ĐẾN PHẨM GIÁ HÔN NHÂN Ngoại tình Số 2380 Ngoại tình. Từ này chỉ sự không chung thuỷ phu phụ. Khi hai người, mà ít là một trong hai đã có dây hôn phối, có quan hệ tính dục với nhau, kể cả nhất thời, thì phạm tội ngoại tình. Đức Kitô lên án tội ngoại tình, ngay cả khi chỉ là ngoại tình trong ước muốn đơn giản 131 . Điều răn thứ sáu và Tân Ước tuyệt đối cấm ngoại tình 132 . Các Tiên tri tố giác tính nghiêm trọng của tội ngoại tình. Các ngài thấy tội ngoại tình là hình ảnh của tội thờ ngẫu tượng 133 .
Số 2381 Ngoại tình là một sự bất công. Người phạm tội đó bỏ không thực hiện những cam kết của mình. Người đó làm tổn thương dấu chỉ của giao ước là dây liên kết hôn nhân, vi phạm quyền của người phối ngẫu kia, và xâm phạm thể chế hôn nhân khi vi phạm hôn ước, là nền tảng của thể chế đó. Người đó làm phương hại đến điều thiện hảo của việc sinh sản và của con cái, vốn cần đến sự kết hợp bền vững của cha mẹ.
Ly dị Số 2382 Chúa Giêsu nhấn mạnh đến ý định nguyên thuỷ của Đấng Tạo Hoá, Ngài đã muốn rằng hôn nhân là bất khả phân ly 134 . Người bãi bỏ những nhân nhượng đã được xen vào trong Luật cũ 135 . Giữa những người đã chịu Phép Rửa, “hôn nhân thành nhận và hoàn hợp (ratum et consummatum) không thể được tháo gỡ do bất cứ quyền bính nhân loại nào, và vì bất cứ lý do nào, trừ lý do tử vong” 136 .
Số 2383 Việc ly thân (separatio) của đôi phối ngẫu, nhưng vẫn duy trì dây liên kết hôn nhân, có thể là hợp pháp trong một số trường hợp đã được Giáo Luật dự liệu 137 . Nếu việc ly dị dân sự vẫn còn là phương cách duy nhất để bảo đảm một số quyền lợi hợp pháp, như việc chăm sóc con cái hoặc bảo vệ gia sản, thì có thể chịu đựng mà không lỗi phạm về luân lý.
Số 2384 Ly dị là một xúc phạm nghiêm trọng đối với luật tự nhiên. Ly dị cố ý phá vỡ khế ước đã được đôi phối ngẫu tự do ưng thuận, để sống với nhau cho đến chết. Ly dị làm tổn thương Giao ước cứu độ mà bí tích Hôn Phối là dấu chỉ. Sự tái hôn, mặc dầu được luật dân sự công nhận, càng làm cho tình trạng đổ vỡ thêm nghiêm trọng: người tái hôn, sau khi ly dị, sống trong tình trạng ngoại tình công khai và thường xuyên: “Người nam, sau khi bỏ vợ, không được lấy người khác. Người nữ bị chồng bỏ, cũng không được làm vợ người khác 138 .
Số 2385 Ly dị cũng mang tính vô luân do sự xáo trộn nó đưa vào tế bào gia đình và vào xã hội. Sự xáo trộn này kéo theo những tổn hại nghiêm trọng: cho người phối ngẫu bị ruồng bỏ; cho con cái, bị tổn thương sâu xa bởi sự phân ly của cha mẹ, và thường bị dằng co giữa cha và mẹ; vì hậu quả lây lan của nó, ly dị thật sự là một tai ương cho xã hội.
Số 2386 Có thể xảy ra là một người trong đôi phối ngẫu là nạn nhân vô tội của việc ly dị do tòa án dân sự công bố; lúc đó người này không vi phạm mệnh lệnh luân lý. Có sự khác biệt đáng lưu ý giữa người phối ngẫu thành thật cố gắng trung thành với bí tích Hôn Phối và bị ruồng bỏ cách bất công, với người phối ngẫu, do trọng tội về phía mình, phá hủy hôn nhân đã thành sự theo Giáo Luật 139 .
Những xúc phạm khác đến phẩm giá hôn nhân Số 2387 Chúng ta hiểu được bi kịch của một người, vì muốn hối cải để theo Tin Mừng, bắt buộc phải từ bỏ một hoặc nhiều người vợ đã chung sống nhiều năm. Tuy nhiên, tục đa thê không phù hợp với luật luân lý. “Tục đa thê tuyệt đối nghịch lại với sự hiệp thông phu phụ: quả vậy, tục đa thê trực tiếp khước từ ý định của Thiên Chúa, như đã được mạc khải ngay từ những buổi đầu, bởi vì nó không phù hợp với phẩm giá bình đẳng và cá vị của người nam và người nữ, những người tự hiến cho nhau bằng một tình yêu trọn vẹn, và vì vậy, tự bản chất là một tình yêu duy nhất và độc hữu” 140 . Kitô hữu nào, trước kia là người đa thê, bị buộc nặng theo đức công bằng, phải tôn trọng những bổn phận đã ký kết liên quan đến các bà vợ ngày trước và con cái của mình.
Số 2388 Loạn luân chỉ những quan hệ tính dục giữa những người họ hàng cùng huyết tộc hoặc họ hàng gần, ở một cấp bậc cấm kết hôn với nhau 141 . Thánh Phaolô lên án tội lỗi đặc biệt nghiêm trọng này: “Đi đâu cũng chỉ nghe nói đến chuyện dâm ô xảy ra giữa anh em... có kẻ ăn ở với vợ kế của cha mình!... Nhân danh Chúa Giêsu Kitô... chúng ta phải nộp con người đó cho Satan để phần xác nó bị hủy diệt (1 Cr 5,1.4-5)... Loạn luân phá vỡ những tương quan gia đình và cho thấy một sự thoái hóa trở về thú tính.
Số 2389 Có thể kể là loạn luân, những lạm dụng tính dục do những người trưởng thành thực hiện đối với trẻ con hoặc thiếu niên đã được ủy thác cho họ trông coi. Lỗi phạm này tăng gấp đôi: một mặt vì gây gương xấu xâm phạm đến sự toàn vẹn thể lý và luân lý của các người trẻ, và còn để lại dấu ấn suốt cuộc đời chúng, mặt khác vì họ xâm phạm trách nhiệm giáo dục của mình.
Số 2390 Tự do sống chung (libera iunctio) là khi một người nam và một người nữ từ chối thực hiện một hình thức pháp lý và công khai cho mối liên hệ bao hàm sự thân mật về tính dục. Kiểu nói “Tự do sống chung là dối trá, vì có nghĩa gì một sự sống chung không hôn nhân, trong đó những nhân vị không bị ràng buộc với nhau và như vậy chứng tỏ rằng họ không tin tưởng vào người kia, vào chính mình, hoặc vào tương lai? Kiểu nói này chỉ nhiều trường hợp khác nhau: ăn ở với nhau không cưới xin, từ chối kết hôn theo đúng tính chất của hôn nhân, không thể ràng buộc nhau bằng những cam kết dài lâu 142 . Tất cả những trường hợp này đều xúc phạm đến phẩm giá của hôn nhân; chúng phá hủy chính ý niệm về gia đình; chúng làm suy giảm ý nghĩa của lòng chung thủy. Chúng nghịch với luật luân lý: hành vi tính dục chỉ được chấp nhận trong hôn nhân; ngoài hôn nhân, hành vi này luôn luôn là một tội trọng và người vi phạm bị loại ra khỏi sự hiệp thông bí tích.
Số 2391 Ngày nay, nhiều người đòi hỏi “quyền thử nghiệm”, khi có ý định kết hôn. Nhưng dù quyết tâm của những người có quan hệ tính dục tiền hôn nhân có chắc chắn đến đâu đi nữa, thì “những quan hệ đó cũng không cho phép bảo đảm cách an toàn nhu cầu hỗ tương giữa các nhân vị, là người nam và người nữ, là sự chân thành và sự chung thuỷ, nhất là chẳng giúp nhu cầu đó được bảo vệ khỏi sự thay đổi những ham muốn và lựa chọn” 143 . Về phương diện luân lý, sự kết hợp thể xác chỉ hợp pháp khi một cộng đồng sống vĩnh viễn giữa người nam và người nữ đã được thiết lập. Tình yêu của con người không chấp nhận “thử nghiệm”. Tình yêu đó đòi hỏi sự hiến thân cho nhau trọn vẹn và vĩnh viễn của cả hai người 144 .
TÓM LƯỢC Số 2392 “Tình yêu là ơn gọi căn bản và thuộc bản tính của mỗi con người” 145 .
Số 2393 Khi tạo dựng con người có nam có nữ, Thiên Chúa đã ban cho người nam và người nữ sự bình đẳng về nhân phẩm. Mỗi người, nam cũng như nữ, phải nhận biết và chấp nhận căn tính tính dục của mình.
Số 2394 Đức Kitô là khuôn mẫu của đức khiết tịnh. Mọi người đã chịu Phép Rửa đều được kêu gọi sống đời khiết tịnh tùy theo bậc sống riêng của mình.
Số 2395 Sự khiết tịnh là việc hoà nhập thành công tính dục trong nhân vị. Nó đòi hỏi việc tập luyện sự tự chủ cá vị.
Số 2396 Trong số các tội nghịch với đức khiết tịnh cách nghiêm trọng, phải kể: thủ dâm, gian dâm, hình ảnh khiêu dâm, và các hành động đồng tính luyến ái.
Số 2397 Giao ước, đã được đôi phối ngẫu ký kết cách tự do, bao hàm tình yêu chung thuỷ. Giao ước đó đòi buộc đôi phối ngẫu gìn giữ hôn nhân của mình bất khả phân ly.
Số 2398 Sự sinh sản là một điều thiện hảo, một hồng ân, một mục đích của hôn nhân. Khi ban tặng sự sống, đôi phối ngẫu tham dự vào quyền phụ tử của Thiên Chúa.
Số 2399 Việc điều hòa sinh sản là một trong những phương diện thể hiện tư cách làm cha làm mẹ có trách nhiệm. Nhưng ý hướng hợp pháp của đôi phối ngẫu không biện minh cho việc sử dụng các phương thế không thể chấp nhận về mặt luân lý (thí dụ trực tiếp triệt sản hoặc chống thụ thai).
Số 2400 Ngoại tình và ly dị, đa thê và tự do sống chung, là những xúc phạm nghiêm trọng đến phẩm giá của hôn nhân. Mục 7: Điều Răn Thứ Bảy Lời Chúa “Ngươi không được trộm cắp” (Xh 20,15) 146 . “Ngươi không được trộm cắp” (Mt 19,18).
Số 2401 Điều răn thứ bảy cấm lấy hoặc giữ của cải của người khác cách bất công, hay làm thiệt hại của cải của họ bất cứ bằng cách nào. Điều răn này dạy phải giữ đức công bằng và bác ái về những của cải trần thế và thành quả lao động của con người. Vì công ích, điều răn này đòi phải tôn trọng quyền chung hưởng (destinationem universalem) các của cải, và quyền tư hữu. Kitô hữu cố gắng trong đời sống mình biết dùng của cải trần thế để phục vụ Thiên Chúa và tình bác ái huynh đệ.
I. QUYỀN CHUNG HƯỞNG VÀ QUYỀN TƯ HỮU CỦA CẢI Số 2402 Từ ban đầu, Thiên Chúa đã trao trái đất và các tài nguyên của nó cho nhân loại chung sức quản lý, để con người chăm sóc, chế ngự chúng bằng lao động và hưởng dùng hoa trái của trái đất 147 . Của cải của công trình tạo dựng được dành cho toàn thể nhân loại. Tuy nhiên, trái đất được phân chia ra giữa người ta với nhau để bảo đảm an toàn cho cuộc sống của họ, vốn bị sự túng thiếu và bạo lực đe dọa. Sự tư hữu của cải là hợp pháp, để bảo đảm sự tự do và phẩm giá con người, để giúp mỗi người đáp ứng được các nhu cầu căn bản của mình và nhu cầu của những ai họ có bổn phận chăm lo. Sự tư hữu đó phải giúp biểu lộ tình liên đới tự nhiên giữa người với người.
Số 2403 Quyền tư hữu của cải, do mình làm ra hay nhận được một cách chính đáng, không hủy bỏ việc ban tặng trái đất cho toàn thể nhân loại ngay từ nguyên thủy. Quyền chung hưởng của cải vẫn đứng hàng đầu, mặc dầu sự thăng tiến của công ích đòi hỏi phải tôn trọng sự tư hữu, quyền tư hữu và việc thực thi quyền này.
Số 2404 “Khi sử dụng của cải, con người phải coi những của cải bên ngoài mà mình sở hữu cách hợp pháp, không chỉ như của riêng mình, nhưng còn như của chung, theo nghĩa là chúng có thể mang lại lợi ích không những cho mình, mà còn cho những người khác nữa” 148 . Việc sở hữu của cải làm cho chủ sở hữu thành một người quản trị của Chúa quan phòng, để làm cho của cải này sinh hoa lợi và truyền thông các phúc lợi của nó cho người khác, trước hết là cho những người lân cận của mình.
Số 2405 Những tư liệu sản xuất - vật chất hoặc phi vật chất - như đất đai hoặc cơ xưởng, những khả năng hay kỹ thuật, đòi hỏi những người sở hữu chúng phải biết chăm sóc để lợi tức của chúng đem lại ích lợi cho nhiều người nhất. Những người sở hữu các của cải để tiêu dùng, phải sử dụng chúng cách điều độ, dành phần tốt nhất cho khách, cho người bệnh hoặc cho người nghèo.
Số 2406 Vì công ích, chính quyền có quyền và bổn phận điều tiết việc thực thi hợp pháp quyền sở hữu 149 .
II. TÔN TRỌNG CÁC NHÂN VỊ VÀ CỦA CẢI CỦA HỌ Số 2407 Trong lãnh vực kinh tế, việc tôn trọng nhân phẩm đòi phải thực thi đức tiết độ, để điều tiết sự say mê của cải trần thế; đức công bằng, để bảo vệ các quyền của người lân cận và trả lại cho họ những gì thuộc về họ; và tình liên đới, theo khuôn vàng thước ngọc (regula aurea) và theo lòng quảng đại của Chúa, là Đấng vốn giàu sang, đã trở nên nghèo khó vì chúng ta, để lấy cái nghèo của Ngài mà làm cho chúng ta trở nên giàu có 150 .
Tôn trọng của cải của tha nhân Số 2408 Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp, nghĩa là, cấm chiếm đoạt của cải của tha nhân trái với ý muốn hợp lý của sở hữu chủ. Không bị coi là trộm cắp, nếu có thể phỏng đoán được sự ưng thuận của chủ nhân hoặc sự khước từ của họ nghịch với lý trí và với quyền chung hưởng của cải trần thế. Đó là trường hợp có nhu cầu rõ ràng và khẩn cấp, mà phương thế duy nhất để đáp ứng cho các nhu cầu cấp thời và thiết yếu (thức ăn, chỗ ở, áo quần...) là lấy và sử dụng của cải của tha nhân 151 .
Số 2409 Mọi cách lấy hoặc giữ cách bất công của cải của tha nhân, mặc dầu không nghịch với những quy định của dân luật, vẫn nghịch với điều răn thứ bảy. Chẳng hạn cố tình giữ lại của cải đã mượn hoặc của rơi; gian lận trong việc buôn bán 152 ; trả lương bất công 153 ; lợi dụng sự không biết hoặc nhu cầu của tha nhân để tăng giá kiếm lời 154 . Về phương diện luân lý, những việc sau đây cũng bất hợp pháp: đầu cơ, nghĩa là làm biến động giá cả cách giả tạo để trục lợi nhưng làm thiệt hại cho tha nhân; hối lộ, là làm sai lệch phán đoán của những người phải quyết định theo luật pháp; chiếm đoạt và sử dụng riêng của cải chung của xí nghiệp; làm việc cách cẩu thả, gian lận thuế, giả mạo các chi phiếu và hóa đơn, chi tiêu quá mức, lãng phí. Chủ ý gây thiệt hại cho các tài sản tư nhân hoặc công cộng là nghịch với luật luân lý và phải bồi thường.
Số 2410 Các lời hứa phải được giữ và các hợp đồng phải được tuân thủ nghiêm túc, tuỳ theo mức độ những cam kết trong hợp đồng, là công bằng về mặt luân lý. Phần lớn đời sống kinh tế và xã hội tuỳ thuộc vào giá trị của các hợp đồng giữa các thể nhân và pháp nhân. Chẳng hạn như các hợp đồng thương mại mua bán, hợp đồng thuê mướn và hợp đồng lao động. Mọi hợp đồng đều phải được ký kết và phải được thực hiện với thiện ý.
Số 2411 Các hợp đồng phải tuân theo sự công bằng giao hoán, quy định những trao đổi giữa các cá vị và giữa các tổ chức trong sự tôn trọng chính xác các quyền lợi của nhau. Sự công bằng giao hoán đòi buộc cách nghiêm ngặt; nó đòi hỏi sự bảo toàn các quyền tư hữu, việc trả nợ và việc chu toàn các nghĩa vụ đã cam kết cách tự do. Không có sự công bằng giao hoán, thì không thể có một hình thức công bằng nào khác. Người ta phân biệt công bằng giao hoán (iustitia commutativa) với công bằng pháp lý (iustitia legalis), liên quan đến điều người công dân có bổn phận, theo lẽ công bằng, đối với cộng đồng, và với công bằng phân phối (iustitia distributiva) quy định những gì cộng đồng phải thực hiện cho các công dân, tương xứng với những đóng góp và với những nhu cầu của họ.
Số 2412 Vì công bằng giao hoán, việc đền bù sự bất công đã phạm đòi phải trả lại của cải đã bị lấy cắp cho sở hữu chủ của nó: Chúa Giêsu khen ông Giakêu vì quyết định của ông: “Nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn (Lc 19,8). Những ai đã trực tiếp hoặc gián tiếp chiếm đoạt của cải của tha nhân, buộc phải trả lại, hoặc nếu đồ vật đó không còn nữa, phải trả lại bằng cái tương đương về bản chất hoặc tiền mặt, kèm theo tiền lời và các lợi nhuận khác mà sở hữu chủ của nó lẽ ra, nhờ nó, đã được hưởng cách hợp pháp. Cũng vậy, tất cả những người đã tham gia bất cứ cách nào vào việc trộm cắp, hoặc đã chủ ý hưởng lợi từ việc trộm cắp đó, đều buộc phải trả lại, một cách tương xứng theo trách nhiệm của mình và theo lợi lộc của mình; chẳng hạn những người đã ra lệnh hoặc giúp đỡ, hoặc che đậy việc trộm cắp đó.
Số 2413 Các trò chơi may rủi (cờ bạc v.v...) hoặc cá cược, tự chúng không nghịch với đức công bằng. Nhưng các trò này trở thành không thể chấp nhận được về mặt luân lý, khi chúng cướp đi cái cần thiết để đáp ứng những nhu cầu của bản thân và của tha nhân. Đam mê cờ bạc là sống trong nguy cơ trở thành nô lệ nghiêm trọng. Cờ gian bạc lận là một lỗi nặng, trừ khi gây thiệt hại rất nhẹ đến độ người bị thiệt không thể, một cách hữu lý, coi đó như chuyện quan trọng.
Số 2414 Điều răn thứ bảy cấm các hành vi và các sáng kiến – với bất cứ lý do nào, vì ích kỷ mù quáng hoặc vì ý thức hệ, vì lợi nhuận hoặc do độc tài dẫn tới việc nô lệ hóa con người, không nhìn nhận nhân phẩm của họ, mua bán hoặc trao đổi họ như hàng hóa. Đây là tội nghịch với nhân phẩm và những quyền căn bản của con người vì dùng bạo lực biến họ thành một vật dụng hoặc nguồn lợi. Thánh Phaolô đã ra lệnh cho một chủ nhân Kitô hữu phải đối xử với người nô lệ Kitô hữu của mình “thay vì một người nô lệ, thì được một người anh em rất thân mến,... cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa” (Plm 16).
Tôn trọng sự toàn vẹn của công trình tạo dựng Số 2415 Điều răn thứ bảy dạy phải tôn trọng sự toàn vẹn của công trình tạo dựng. Thú vật cũng như thực vật và những vật vô tri nhằm phục vụ công ích của nhân loại trong quá khứ, hiện tại và tương lai 155 . Việc sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng chất, thực vật và động vật trong vũ trụ, không thể được tách biệt khỏi việc phải tôn trọng những đòi hỏi của luân lý. Quyền thống trị Đấng Tạo Hoá đã ban cho con người trên các vật vô tri và những sinh vật khác không phải là tuyệt đối. Quyền đó phải để ý đến việc chăm sóc phẩm chất đời sống của tha nhân, kể cả của những thế hệ tương lai; quyền này đòi phải có sự tôn trọng đạo hạnh đối với sự toàn vẹn của công trình tạo dựng 156 .
Số 2416 Thú vật là những thụ tạo của Thiên Chúa. Ngài ân cần quan phòng chăm sóc chúng 157 . Chỉ bằng sự hiện hữu của mình, chúng đã ca tụng và tôn vinh Ngài 158 . Con người cũng phải đối xử tử tế với chúng. Phải nhắc lại rằng các thánh như Phanxicô Assisi hoặc Philipphê Nêri đã đối xử dịu hiền với thú vật như thế nào.
Số 2417 Thiên Chúa đã trao phó các thú vật cho con người quản lý, con người mà Ngài đã dựng nên theo hình ảnh Ngài 159 . Vì vậy việc sử dụng thú vật làm lương thực và y phục là hợp pháp. Con người có thể thuần hóa chúng để chúng trợ lực con người trong lao động hoặc giải trí. Những thí nghiệm y học và khoa học trên thú vật có thể chấp nhận được về mặt luân lý, miễn là ở trong những giới hạn hợp lý và góp phần vào việc chữa bệnh hoặc cứu lấy mạng sống con người.
Số 2418 Hành hạ thú vật và phung phí mạng sống của chúng cách vô ích là nghịch với phẩm giá con người. Cũng vậy, chi phí những số tiền quá đáng cho thú vật, mà lẽ ra phải ưu tiên làm giảm bớt sự khốn cùng của con người, là một việc bất xứng. Được phép ưa thích thú vật, nhưng không được dành cho chúng tình yêu, chỉ dành cho con người.
III. GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH Số 2419 “Mạc khải Kitô giáo... đưa chúng ta đến sự hiểu biết sâu xa hơn về những luật lệ của đời sống xã hội” 160 . Hội Thánh đón nhận từ Tin Mừng mạc khải trọn vẹn chân lý về con người. Khi chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng, Hội Thánh nhân danh Đức Kitô, chứng tỏ cho con người biết phẩm giá riêng của họ và ơn gọi của họ đến sự hiệp thông các nhân vị; Hội Thánh dạy cho con người biết các đòi hỏi của công lý và hòa bình, theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
Số 2420 Hội Thánh đưa ra phán đoán luân lý trong lãnh vực kinh tế và xã hội, “khi các quyền căn bản của con người hoặc ơn cứu độ các linh hồn đòi hỏi việc đó” 161 . Trên bình diện luân lý, Hội Thánh hành động do sứ vụ khác với sứ vụ của chính quyền: Hội Thánh quan tâm đến các khía cạnh trần thế của công ích vì lý do chúng quy hướng về Sự Thiện tối thượng, là mục đích tối hậu của chúng ta. Hội Thánh cố gắng thôi thúc những thái độ đúng đắn liên quan đến của cải trần thế và trong các tương quan kinh tế xã hội.
Số 2421 Giáo huấn xã hội của Hội Thánh được triển khai vào thế kỷ thứ XIX khi Tin Mừng tiếp xúc với xã hội kỹ nghệ cơ khí hiện đại, với những cơ cấu mới của nó để sản xuất các sản phẩm tiêu thụ, với quan niệm mới của nó về xã hội, về quốc gia và quyền bính, với các hình thức mới của nó về lao động và quyền sở hữu. Sự triển khai giáo huấn của Hội Thánh về vấn đề kinh tế và xã hội, chứng tỏ giá trị trường tồn của giáo huấn Hội Thánh, đồng thời cho thấy ý nghĩa đích thực của Truyền thống luôn sống động và tích cực của Hội Thánh 162 .
Số 2422 Giáo huấn xã hội của Hội Thánh là tập hợp các giáo huấn được nối kết với nhau, theo như đã được Hội Thánh giải thích về các biến cố xảy ra trong dòng lịch sử, dưới ánh sáng của toàn thể lời đã được Chúa Giêsu Kitô mạc khải, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Giáo huấn này sẽ được những người thành tâm thiện chí đón nhận hơn, khi nó gây cảm hứng nhiều hơn cho cách hành động của các tín hữu 163 .
Số 2423 Giáo huấn xã hội của Hội Thánh đề ra những nguyên tắc để suy tư, quy định những tiêu chuẩn để phán đoán, và trình bày những kế hoạch để hành động: Mọi hệ thống, theo đó các tương quan xã hội hoàn toàn được xác định bằng các yếu tố kinh tế, thì đều nghịch với bản tính của nhân vị và với bản chất của các hành vi nhân linh 164 .
Số 2424 Lý thuyết nào lấy lợi nhuận làm quy luật độc hữu và mục đích tối hậu của hoạt động kinh tế, thì không thể chấp nhận được về mặt luân lý. Lòng ham muốn vô trật tự về tiền bạc không ngừng gây ra những hậu quả lệch lạc. Đây là một trong những nguyên nhân của nhiều cuộc xung đột làm xáo trộn trật tự xã hội 165 . Hệ thống nào hy sinh “những quyền căn bản của các cá nhân và đoàn thể cho tổ chức sản xuất tập thể”, thì nghịch với phẩm giá con người 166 . Mọi hành động giản lược các nhân vị thành những phương tiện thuần túy để trục lợi, đều nô lệ hóa con người, đưa tới việc thờ ngẫu tượng là tiền bạc, và góp phần truyền bá chủ thuyết vô thần. “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Mt 6,24; Lc 16,13).
Số 2425 Hội Thánh chấp nhận các ý thức hệ chuyên chế và vô thần, trong thời đại ngày nay, được nối kết với mọi hình thái chuyên chế độc tài. Đàng khác, Hội Thánh cũng phi bác chủ nghĩa cá nhân trong việc thực hành của “Chủ nghĩa tư bản” và việc cho luật thị trường là tối thượng trên lao động của con người 167 . Việc điều hành kinh tế chỉ dựa trên kế hoạch tập trung làm băng hoại tận nền tảng các mối dây liên kết xã hội; việc điều hành kinh tế chỉ theo luật thị trường xúc phạm đến sự công bằng xã hội, “bởi vì có những đòi hỏi của con người không thể thoả mãn được nhờ thị trường” 168 . Phải ủng hộ sự điều hành hợp lý đối với thị trường và các sáng kiến kinh tế, theo một bậc thang giá trị đúng đắn và nhằm vào công ích.
IV. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Số 2426 Việc phát triển các hoạt động kinh tế và sự gia tăng sản xuất nhằm phục vụ các nhu cầu của con người. Đời sống kinh tế không chỉ nhằm để làm ra nhiều sản phẩm, gia tăng lợi nhuận hoặc quyền lực; nhưng trước tiên nó nhắm tới việc phục vụ các nhân vị, con người toàn diện và toàn thể cộng đồng nhân loại. Hoạt động kinh tế phải được hướng dẫn theo những phương pháp và luật lệ riêng, phải được thực thi trong các giới hạn của trật tự luân lý, theo sự công bằng xã hội, để phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa về con người 169 .
Số 2427 Lao động của con người xuất phát trực tiếp từ những nhân vị, đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, và được kêu gọi để tiếp nối công trình tạo dựng, cùng với nhau và cho nhau, bằng việc làm chủ trái đất 170 . Vì vậy, lao động là một bổn phận: “Ai không chịu làm việc thì cũng đừng ăn” (2 Tx 3,10) 171 . Lao động biểu dương các hồng ân của Đấng Tạo Hoá và những tài năng đã lãnh nhận. Lao động cũng có giá trị cứu chuộc. Khi chịu đựng những vất vả 172 của lao động trong sự kết hợp với Chúa Giêsu, người thợ làng Nazareth và đã chịu đóng đinh vào thập giá trên đồi Calvario, con người cộng tác một cách nào đó với Con Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc của Người. Họ biểu lộ mình là môn đệ của Đức Kitô, khi vác thập giá hằng ngày trong hoạt động họ được kêu gọi chu toàn 173 . Lao động có thể là một phương thế thánh hóa và làm sinh động các thực tại trần thế trong Thần Khí của Đức Kitô.
Số 2428 Trong lao động, con người thực thi và kiện toàn một phần các tài năng đã được ghi khắc trong bản tính của mình. Giá trị hàng đầu của lao động thuộc về con người, là tác giả và là mục tiêu của lao động. Lao động cho con người, chứ không phải con người cho lao động 174 . Mỗi người phải có thể rút từ lao động các phương tiện để nuôi sống mình và những người thuộc về mình, và để phục vụ cộng đồng nhân loại.
Số 2429 Mỗi người có quyền có sáng kiến về kinh tế, mỗi người nên sử dụng cách hợp pháp các tài năng của mình, để góp phần làm ra nhiều của cải cho mọi người được hưởng, và để thu lượm những hoa trái chính đáng do các nỗ lực của mình. Họ phải quan tâm để tuân theo những quy định do các quyền bính hợp pháp đề ra vì công ích 175 .
Số 2430 Đời sống kinh tế liên quan đến nhiều quyền lợi khác nhau, thường đối nghịch nhau. Từ đó thường sinh ra các xung đột, là đặc điểm của đời sống kinh tế 176 . Phải cố gắng giải quyết các xung đột bằng thương lượng, dựa trên sự tôn trọng các quyền lợi và bổn phận của mỗi thành phần xã hội: ban điều hành các xí nghiệp, đại diện công nhân, chẳng hạn các tổ chức nghiệp đoàn, và đôi khi, công quyền.
Số 2431 Trách nhiệm của Nhà Nước. “Hoạt động kinh tế, nhất là kinh tế thị trường, không thể triển khai trong một môi trường không có thể chế pháp lý và chính trị. Trái lại, hoạt động kinh tế giả thiết rằng các quyền tự do cá nhân và quyền tư hữu phải được bảo đảm, cũng như một hệ thống tiền tệ ổn định và các dịch vụ công cộng hữu hiệu. Như vậy, nhiệm vụ chủ yếu của Nhà Nước là bảo đảm những vấn đề trên, để những người lao động và sản xuất có thể hưởng kết quả do sức lao động của họ, và nhờ đó họ cảm thấy được khích lệ để làm việc một cách có hiệu quả và lương thiện.... Một nhiệm vụ khác của Nhà Nước là phải giám sát và hướng dẫn việc thực thi các quyền con người trong lãnh vực kinh tế; tuy nhiên, trong lãnh vực này, trách nhiệm hàng đầu không thuộc về Nhà Nước, nhưng thuộc về các cá nhân, các nhóm, và các tập thể khác nhau tạo nên xã hội” 177 .
Số 2432 Những người lãnh đạo xí nghiệp chịu trách nhiệm trước xã hội về mặt kinh tế và sinh thái của công việc làm ăn của mình 178 . Họ buộc phải quan tâm đến lợi ích của con người chứ không chỉ lo gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, lợi nhuận là cần thiết. Chúng cho phép thực hiện những đầu tư để bảo đảm tương lai của các xí nghiệp. Chúng bảo đảm công ăn việc làm.
Số 2433 Quyền có việc làm và chọn nghề phải được mở ngỏ cho mọi người, không được kỳ thị cách bất công, cho người nam và người nữ, cho người khỏe mạnh và đau yếu, cho người địa phương và người di cư 179 . Về phần mình, tùy hoàn cảnh, xã hội phải giúp đỡ để các công dân tìm được công ăn việc làm 180 .
Số 2434 Tiền lương công bằng là kết quả hợp pháp của lao động. Không trả hoặc giữ tiền lương lại, có thể là một bất công nghiêm trọng 181 . Để định giá việc trả lương cách công bằng, phải đồng thời lưu ý đến các nhu cầu và các đóng góp của mỗi người. “Căn cứ vào nhiệm vụ và năng suất của mỗi người, vào tình trạng của xí nghiệp và công ích, việc trả lương cho lao động phải bảo đảm cho con người khả năng xây dựng một cách xứng đáng cho mình và cho những người thuộc về mình một đời sống vật chất, xã hội, văn hóa và tinh thần” 182 . Sự thỏa thuận giữa chủ và thợ không đủ để biện minh về mặt luân lý cho số tiền trả lương.
Số 2435 Sự đình công là hợp pháp về mặt luân lý, khi đó là một phương thế không thể tránh được, hoặc thậm chí là cần thiết, để đạt được lợi ích tương xứng. Sự đình công là không thể chấp nhận được về mặt luân lý, khi kèm theo bạo động, hoặc hơn thế nữa, nếu được dùng để nhằm những mục tiêu không trực tiếp liên hệ đến các điều kiện làm việc hoặc những mục tiêu nghịch với công ích.
Số 2436 Không đóng góp lệ phí cho những tổ chức an sinh xã hội do quyền bính hợp pháp quy định, là điều bất công. Nạn thất nghiệp vì thiếu việc làm hầu như luôn làm tổn thương phẩm giá của nạn nhân và đe dọa sự quân bình của đời sống. Ngoài sự thiệt hại mà cá nhân người đó phải gánh chịu, nạn thất nghiệp còn đem lại nhiều nguy cơ cho gia đình họ 183 .
V. SỰ CÔNG BẰNG VÀ TÌNH LIÊN ĐỚI GIỮA CÁC QUỐC GIA Số 2437 Trên bình diện quốc tế, sự bất bình đẳng về các nguồn tài nguyên và các phương tiện kinh tế là hết sức lớn lao, đến nỗi nó gây nên một “hố sâu” thật sự giữa các quốc gia 184 . Một bên là những quốc gia nắm giữ và gia tăng các phương tiện phát triển, bên kia là những quốc gia nợ nần chồng chất.
Số 2438 Nhiều nguyên do khác nhau về tôn giáo, chính trị, kinh tế và tài chính, khiến cho “vấn đề xã hội ngày nay mang một chiều kích quốc tế 185 . Tình liên đới là cần thiết giữa các quốc gia vốn có liên hệ chính trị phụ thuộc lẫn nhau. Tình liên đới còn hết sức cần thiết khi vấn đề là phải loại trừ những “cơ chế máy móc bất nhân” gây chướng ngại cho sự phát triển của các quốc gia chậm tiến 186 . Thay vào các hệ thống kinh tài đầy lạm dụng hoặc thậm chí bóc lột 187 , những tương quan thương mại bất công giữa các quốc gia, việc chạy đua vũ trang, cần phải có một nỗ lực chung để huy động các nguồn tài nguyên vào những mục tiêu phát triển luân lý, văn hóa và kinh tế “trước hết bằng việc làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng nhất và các bậc thang các lợi ích, dựa theo đó ... mà đề ra những kế hoạch 188 .
Số 2439 Các nước giàu có trách nhiệm luân lý nghiêm trọng đối với các nước không thể tự bảo đảm cho mình sự phát triển hoặc bị ngăn cản không phát triển được vì những biến cố lịch sử bi thảm. Đây là một bổn phận của tình liên đới và bác ái; đây cũng là sự bắt buộc của đức công bằng, nếu sự sung túc của các nước giàu là do những tài nguyên đã không được trả tiền cách công bằng.
Số 2439 Các nước giàu có trách nhiệm luân lý nghiêm trọng đối với các nước không thể tự bảo đảm cho mình sự phát triển hoặc bị ngăn cản không phát triển được vì những biến cố lịch sử bi thảm. Đây là một bổn phận của tình liên đới và bác ái; đây cũng là sự bắt buộc của đức công bằng, nếu sự sung túc của các nước giàu là do những tài nguyên đã không được trả tiền cách công bằng.
Số 2441 Gia tăng cảm thức về Thiên Chúa và sự hiểu biết chính mình là nền tảng của mọi phát triển trọn vẹn xã hội loài người. Sự phát triển này làm sinh sôi nảy nở các của cải vật chất và dùng chúng vào việc phục vụ con người và sự tự do của con người. Sự phát triển này làm giảm bớt nỗi khốn cùng và sự lạm dụng kinh tế. Nó làm gia tăng sự tôn trọng đối với các bản sắc văn hóa và đối với việc mở ngỏ hướng tới chiều kích siêu việt 191 .
Số 2442 Sự can thiệp trực tiếp vào cơ cấu chính trị và vào việc tổ chức đời sống xã hội không thuộc về các mục tử của Hội Thánh. Nhiệm vụ này là một phần ơn gọi của các tín hữu giáo dân, là những người hành động bằng sáng kiến riêng cùng với đồng bào của mình. Hành động xã hội có thể bao hàm nhiều đường lối cụ thể. Hành động đó phải luôn nhắm tới công ích và phù hợp với sứ điệp Tin Mừng và với giáo huấn của Hội Thánh. Các tín hữu giáo dân có bổn phận “đem nhiệt tình Kitô giáo làm sinh động các thực tại trần thế, và trong đó tỏ ra mình là những chứng nhân và những người xây dựng công lý và hoà bình 192 .
VI. YÊU THƯƠNG NGƯỜI NGHÈO Số 2443 Thiên Chúa chúc phúc cho những ai giúp đỡ người nghèo, và kết án những ai quay lưng lại với họ. “Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi (Mt 5,42). "Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8). Chúa Giêsu Kitô nhận biết những kẻ được tuyển chọn của Người căn cứ vào những gì họ đã làm cho những người nghèo 193 . Khi “kẻ nghèo được nghe Tin Mừng (Mt 11,5) 194 , thì đó là dấu chỉ sự hiện diện của Đức Kitô.
Số 2444 “Lòng yêu mến của Hội Thánh đối với người nghèo... được tiếp nối liên tục trong kinh nghiệm truyền thống của Hội Thánh 195 . Tình yêu đó được linh hứng bởi Tin Mừng của các mối phúc 196 , bởi sự khó nghèo của Chúa Giêsu 197 và sự quan tâm của Người đối với kẻ nghèo 198 . Tình yêu đối với người nghèo cũng là một trong những động lực thúc đẩy bổn phận làm việc để “có gì chia sẻ với người túng thiếu” 199 . Điều này không chỉ giới hạn ở sự nghèo khó về vật chất, nhưng còn hướng tới nhiều hình thức nghèo đói về văn hóa và tôn giáo 200 .
Số 2445 Tình yêu đối với người nghèo không thể đi đôi với tình yêu vô độ đối với của cải hoặc việc sử dụng của cải cách ích kỷ: “Giờ đây, hỡi những kẻ giàu có, các ngươi hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các ngươi. Tài sản của các ngươi đã hư nát, quần áo của các ngươi đã bị mối ăn. Vàng bạc của các ngươi đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các ngươi; nó sẽ như lửa thiêu hủy xác thịt các ngươi. Các ngươi đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này. Các ngươi đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các ngươi. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các ngươi, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh. Trên cõi đất này, các ngươi đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các ngươi đã được no đầy thỏa mãn trong ngày sát hại. Các người đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các người” (Gc 5,1-6).
Số 2446 Thánh Gioan Kim Khẩu nhắc lại điều này một cách mạnh mẽ: “Không cho kẻ nghèo được chia sẻ của cải thuộc về mình, là ăn cắp của họ và cướp lấy mạng sống của họ; ... của cải chúng ta đang nắm giữ, không phải là của chúng ta, nhưng là của họ” 201 . “Phải thỏa mãn những đòi hỏi của đức công bằng trước đã, kẻo những tặng phẩm đem cho, tưởng là vì bác ái, mà thật ra là phải đền trả vì đức công bằng 202 . “Khi tặng bất cứ thứ gì cần thiết cho người nghèo, thì không phải chúng ta tặng những gì của chúng ta, nhưng là chúng ta trả lại cho họ những gì là của họ; chúng ta trả nợ theo đức công bằng, hơn là chúng ta làm những việc từ thiện” 203 .
Số 2447 Các việc từ thiện là những hành vi bác ái, qua đó chúng ta giúp đỡ tha nhân những gì cần thiết cho thể xác và tinh thần của họ 204 . Dạy dỗ, khuyên nhủ, an ủi, khích lệ là những việc từ thiện về mặt tinh thần, cũng như tha thứ và nhẫn nhục chịu đựng. Các việc từ thiện về mặt vật chất gồm có: cho kẻ đói ăn, cho kẻ vô gia cư tạm trú, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng bệnh nhân và kẻ tù đày, chôn xác kẻ chết 205 . Trong các công việc đó, bố thí cho người nghèo 206 là một trong những bằng chứng chủ yếu của tình bác ái huynh đệ; đó cũng là việc thực thi đức công bằng làm đẹp lòng Thiên Chúa 207 . “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy (Lc 3,11). “Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các ngươi” (Lc 11,41). "Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: 'Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no', nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ? (Gc 2,15-16) 208 .
Số 2448 “Sự khốn cùng của con người xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: cùng cực về của cải vật chất, sự đàn áp bất công, các bệnh tật thể lý và tâm thần, sau cùng là cái chết; tất cả những sự khốn cùng của con người này là dấu chỉ cho thấy tình trạng yếu đuối nguyên thủy, mà sau tội đầu tiên của ông Ađam, con người sống trong đó, và đó cũng là dấu chỉ cho thấy sự cần thiết của ơn cứu độ; những nỗi khốn cùng đó đã lôi kéo lòng thương xót của Đức Kitô, Đấng Cứu độ, Đấng đã muốn mang lấy những nỗi khốn cùng đó khi Người đồng hóa mình với những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây (Mt 25,40.45). Vì vậy, những người gặp cảnh khốn cùng được Hội Thánh dành cho nhiều ưu ái hơn; ngay từ đầu, không bị cản trở vì tội lỗi của các phần tử của mình, do bổn phận của mình, Hội Thánh đã không bao giờ ngưng an ủi, bảo vệ và giải thoát những người đó. Thật vậy, Hội Thánh làm điều đó bằng vô số công việc từ thiện, những việc này là cần thiết ở mọi lúc và mọi nơi 209 .
Số 2449 Ngay từ Cựu Ước đã có những chỉ thị pháp lý đủ mọi loại (năm tha nợ, cấm cho vay lấy lãi và cầm cố, nghĩa vụ đóng thuế thập phân, trả lương mỗi ngày, quyền được mót ở ruộng lúa và vườn nho) đáp ứng lời khuyên của sách Đệ Nhị Luật: “Vì trong đất của anh (em) sẽ không thiếu người nghèo. Nên tôi truyền cho anh (em): hãy mở rộng tay giúp người anh em khốn khổ, nghèo khó của anh (em) trong miền đất của anh (em) (Đnl 15,11). Chúa Giêsu làm cho lời này thành lời của Người: “Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu” (Ga 12,8). Nói vậy, Chúa Giêsu không muốn giảm nhẹ sự mãnh liệt của những lời tiên tri xưa kia: “Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ” (Am 8,6), nhưng Người mời gọi chúng ta nhận biết sự hiện diện của Người nơi những người nghèo là anh em của Người 210 . "Ngày kia, khi thánh Rôsa Lima bị mẹ bà trách vì đã đón nhận những người nghèo, người bệnh vào nhà, bà trả lời mẹ: Khi chúng ta phục vụ những người đau yếu, chúng ta là hương thơm tốt lành của Đức Kitô 211 .
TÓM LƯỢC Số 2450 “Ngươi không được trộm cắp” (Đnl 5,19). “Những kẻ trộm cướp, tham lam... sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp” (1 Cr 6,10).
Số 2451 Điều răn thứ bảy dạy phải giữ đức công bằng và bác ái về những của cải trần thế và thành quả lao động của con người.
Số 2452 Của cải của công trình tạo dựng được dành cho toàn thể nhân loại. Quyền tư hữu của cải không hủy bỏ quyền chung hưởng những của cải này.
Số 2453 Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp. Trộm cắp là chiếm đoạt của cải của tha nhân, trái với ý muốn hợp lý của sở hữu chủ.
Số 2454 Mọi cách lấy hoặc giữ cách bất công của cải của tha nhân, đều nghịch với điều răn thứ bảy. Bất công đã lỗi phạm đòi hỏi phải được đền bù. Công bằng giao hoán đòi phải trả lại của cải đã bị lấy cắp.
Số 2455 Luật luân lý cấm các hành vi, vì lợi nhuận hoặc do độc tài, dẫn tới việc nô lệ hoá con người, mua bán hoặc trao đổi họ như hàng hoá.
Số 2456 Quyền thống trị các tài nguyên khoáng chất, thực vật và động vật trong vũ trụ Đấng Tạo Hoá đã ban cho con người, không thể được tách biệt khỏi việc phải tôn trọng những nghĩa vụ luân lý, kể cả những nghĩa vụ đối với các thế hệ tương lai.
Số 2457 Thú vật được trao phó cho con người chăm sóc; con người phải đối xử tử tế với chúng. Chúng có thể được dùng để đáp ứng những nhu cầu chính đáng của con người.
Số 2458 Hội Thánh đưa ra phán đoán trong lãnh vực kinh tế và xã hội, khi các quyền căn bản của con người hoặc ơn cứu độ các linh hồn đòi hỏi việc đó. Hội Thánh quan tâm đến các khía cạnh trần thế của công ích vì lý do chúng quy hướng về Sự Thiện tối thượng, là mục đích tối hậu của chúng ta.
Số 2459 Chính con người là chủ thể, trung tâm và cùng đích của toàn bộ đời sống kinh tế và xã hội. Điều quan trọng nhất của vấn đề xã hội là làm thế nào để của cải đã được Thiên Chúa tạo dựng cho mọi người, thật sự đến được với mọi người, theo đức công bằng và với sự trợ giúp của đức bác ái.
Số 2460 Giá trị hàng đầu của lao động thuộc về con người, là tác giả và là mục tiêu của lao động. Nhờ lao động của mình, con người tham dự vào công trình tạo dựng. Khi được kết hợp với Đức Kitô, lao động có thể có giá trị cứu chuộc.
Số 2461 Sự phát triển đích thực là sự phát triển con người toàn diện. Vấn đề là khả năng của mỗi nhân vị phải được gia tăng để đáp lại ơn gọi của mình, nghĩa là đáp lời Thiên Chúa, Đấng kêu gọi mình 212 .
Số 2462 Việc bố thí cho người nghèo là một chứng từ của đức mến Kitô giáo: đó cũng là việc thực thi đức công bằng làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Số 2463 Giữa biết bao người không cơm bánh, không nhà cửa, không chốn nương thân, chúng ta lại không nhận ra anh Ladarô, người hành khất đói khổ trong dụ ngôn sao 213 ? Làm thế nào lại không nghe Chúa Giêsu nói: “Các ngươi đã không làm cho chính Tα" (Mt 25,45)? Mục 8: Điều Răn Thứ Tám Lời Chúa “Ngươi không được làm chứng gian hại người” (Xh 20,16). “Anh em còn nghe luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Chúa” (Mt 5,33).
Số 2464 Điều răn thứ tám cấm xuyên tạc chân lý trong những tương quan với tha nhân. Chỉ thị luân lý này xuất phát từ ơn gọi của dân thánh, là làm chứng nhân cho Thiên Chúa của mình, Đấng là chân lý và muốn chân lý. Những sự xúc phạm đến chân lý, bằng lời nói hay bằng hành vi, đều là từ chối dấn thân theo sự ngay thẳng về luân lý. Những sự xúc phạm đó là những bất trung căn bản đối với Thiên Chúa và, theo nghĩa này, chúng huỷ hoại các nền tảng của Giao Ước.
I. SỐNG TRONG CHÂN LÝ Số 2465 Cựu Ước chứng tỏ: Thiên Chúa là nguồn mạch mọi chân lý. Lời Ngài là chân lý 214 . Luật của Ngài là chân lý 215 . “Lòng thành tín Chúa trải bao thế hệ” (Tv 119,90) 216 . Bởi vì Thiên Chúa là “Đấng Chân Thật” (Rm 3,4), nên các phần tử của dân Ngài được kêu gọi sống trong chân lý 217 .
Số 2466 Chân lý của Thiên Chúa được tỏ hiện cách trọn vẹn nơi Chúa Giêsu Kitô. Chính Người, Đấng tràn đầy ân sủng và chân lý 218 , là “ánh sáng thế gian (Ga 8,12). Chính Người là chân lý 219 . Mọi kẻ tin vào Người, thì không còn ở trong bóng tối 220 Môn đệ của Chúa Giêsu ở trong lời Người, để nhận biết chân lý có sức giải thoát 221 và thánh hóa 222 Bước theo Chúa Giêsu là sống bởi Thánh Thần chân lý 223 , Đấng Chúa Cha sai đến nhân danh Người 224 , và là Đấng sẽ dẫn đưa đến “sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải tuyệt đối yêu mến chân lý: “Trong lời nói của anh em, hễ ‘có' thì phải nói có', không thì phải nói không (Mt 5,37).
Số 2467 Con người tự bản tính hướng đến chân lý. Con người buộc phải tôn trọng và làm chứng cho chân lý. “Theo phẩm giá của mình, mọi người, bởi vì là những nhân vị, ... được thôi thúc do bản tính của mình, và do nghĩa vụ luân lý, buộc phải tìm kiếm chân lý, trước hết là chân lý về tôn giáo. Họ cũng buộc phải gắn bó với chân lý đã được nhận biết, và xếp đặt toàn bộ đời sống mình theo các đòi hỏi của chân lý” 225 .
Số 2468 Chân lý, xét như là sự ngay thẳng trong cách hành động và trong lời nói của con người, có tên gọi là sự chân thật, sự thành thật hoặc tâm hồn cởi mở. Chân lý hoặc sự chân thật là một nhân đức, cốt tại việc con người tỏ ra mình thành thật trong các hành vi của mình và thành thật trong các lời nói của mình, tránh xa lối sống hai mặt, dối trá và đạo đức giả.
Số 2469 “Con người không thể... chung sống với nhau nếu không tin nhau, xét như những người biểu lộ chân lý cho nhau" 226 . Nhân đức chân thật trả lại cho người khác cách công bằng điều ta mắc nợ họ. Chân lý giữ sự trung dung chính đáng giữa điều phải được nói ra với điều bí mật phải giữ kín: chân lý bao hàm sự thành thật và sự kín đáo. Theo đức công bằng, “con người phải thành thật biểu lộ chân lý cho người khác” 227 .
Số 2470 Người môn đệ Đức Kitô chấp nhận “sống trong chân lý”, nghĩa là, trong đời sống đơn sơ phù hợp với mẫu gương của Chúa và ở lại trong chân lý của Người. “Nếu chúng ta nói là chúng ta hiệp thông với Người, mà lại đi trong bóng tối, thì chúng ta nói dối, và không hành động theo sự thật” (1 Ga 1,6).
II. “LÀM CHỨNG CHO CHÂN LÝ” Số 2471 Trước mặt quan Philatô, Đức Kitô tuyên bố Người đã đến thế gian là để làm chứng cho chân lý 228 . Kitô hữu không được “hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa” (2 Tm 1,8). Trong những trường hợp đòi phải làm chứng cho đức tin, Kitô hữu phải tuyên xưng đức tin một cách không úp mở, theo gương thánh Phaolô trước mặt các thẩm phán. Họ phải giữ “lương tâm không có gì đáng chê trách trước mặt Thiên Chúa và người ta (Cv 24,16).
Số 2472 Bổn phận của các Kitô hữu là tham gia vào đời sống Hội Thánh, thúc đẩy họ hành động như những chứng nhân của Tin Mừng và chu toàn những nghĩa vụ phát xuất từ bổn phận đó. Làm chứng là lưu truyền đức tin bằng lời nói và việc làm. Làm chứng là một hành vi của đức công bằng nhằm thiết lập chân lý hoặc làm cho chân lý được nhận biết 229 . Mọi Kitô hữu, dù sống ở đâu, đều phải lấy gương mẫu đời sống và chứng từ lời nói để biểu lộ con người mới, mà họ đã mặc lấy qua bí tích Rửa Tội, và biểu lộ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Đấng đã củng cố họ qua bí tích Thêm Sức 230 .
Số 2473 Sự tử đạo là việc làm chứng cao cả nhất cho chân lý đức tin; đó là sự làm chứng cho đến nỗi phải chết. Vị tử đạo làm chứng cho Đức Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại, mà họ được liên kết với Người bằng đức mến. Vị tử đạo làm chứng cho chân lý đức tin và đạo lý Kitô giáo. Vị tử đạo chịu chết bằng hành vi của đức can đảm. “Hãy để tôi trở nên mồi ngon cho ác thú, nhờ chúng mà tôi được đến với Thiên Chúa” 231 .
Số 2474 Hội Thánh hết sức quan tâm thu thập các kỷ niệm về những vị đã làm chứng cho đức tin của mình cho đến cùng. Đó là Hạnh các vị Tử Đạo. Các hạnh này là những văn thư lưu trữ về Chân Lý được viết bằng máu: “Những lãnh địa trần gian và các vương quốc đời này không ích gì cho tôi. Đối với tôi, thà chết trong Đức Kitô Giêsu, còn hơn được thống trị các lãnh địa của trái đất này. Tôi tìm kiếm Người, Đấng đã chết cho chúng ta; tôi khao khát Người, Đấng đã sống lại vì chúng ta. Tôi sắp được sinh ra..." 232 “Con chúc tụng Chúa, vì Chúa đã xét con xứng đáng với ngày này và giờ này, để con được dự phần vào số các vị tử đạo.... Chúa đã thực hiện lời Chúa hứa, lạy Thiên Chúa, Đấng trung tín và không biết nói dối. Vì hồng ân này và vì tất cả mọi sự, con ngợi khen Chúa, con chúc tụng Chúa, con tôn vinh Chúa nhờ vị Thượng Tế vĩnh hằng trên trời là Chúa Giêsu Kitô, Con yêu dấu của Chúa. Nhờ Người, con tôn vinh Chúa cùng với Người trong Chúa Thánh Thần, bây giờ và cho đến muôn đời. Amen 233
III. NHỮNG XÚC PHẠM ĐẾN CHÂN LÝ Số 2475 Các môn đệ của Đức Kitô đã “mặc lấy con người mới, là con người đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,24). “Một khi đã cởi bỏ sự gian dối (Ep 4,25), họ phải “từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu gièm pha" (1 Pr 2,1).
Số 2476 Làm chứng dối và thề gian. Khi được phát biểu công khai, một khẳng định nghịch với chân lý mang tính nghiêm trọng đặc biệt. Trước tòa án, lời nói như thế trở thành việc làm chứng dối 234 . Khi quả quyết như thế mà còn thề, thì đó là thề gian. Những cách hành động này góp phần vào việc hoặc kết án người vô tội, hoặc gỡ tội cho phạm nhân, hoặc gia tăng hình phạt cho bị cáo 235 . Những cách hành động này làm phương hại cách nghiêm trọng đến việc thực thi công lý và sự công bằng của bản án do các thẩm phán tuyên ra.
Số 2477 Sự tôn trọng thanh danh của các nhân vị cấm mọi thái độ và mọi lời nói có thể gây thiệt hại cách bất công cho họ 236 . Sẽ có lỗi khi: Phán đoán hồ đồ, nghĩa là khi không có đủ cơ sở mà, ngay cả một cách thầm lặng, cho một khiếm khuyết về luân lý nơi người lân cận, là có thật. Nói xấu, nghĩa là khi không có lý do chính đáng cách khách quan, mà lại tiết lộ những khiếm khuyết hoặc lỗi phạm của kẻ khác cho những người chưa biết 237 ; Vu khống, nghĩa là khi dùng những khẳng định nghịch với chân lý mà làm hại thanh danh kẻ khác và tạo cơ hội cho người ta phán đoán sai lầm về người đó.
Số 2478 Để tránh phán đoán hồ đồ, mỗi người, bao nhiêu có thể, phải cố gắng giải thích theo nghĩa tốt, những tư tưởng, lời nói và việc làm của người lân cận: “Mỗi Kitô hữu đạo đức phải mau mắn hiểu lời nói hay ý định tối nghĩa của người khác theo nghĩa tốt, hơn là lên án. Nếu không có lý do nào để có thể bào chữa, thì phải hỏi người đó có ý nói gì; nếu người đó nghĩ hay hiểu cách không đúng lắm, thì hãy sửa chữa cách dịu dàng; nếu như vậy chưa đủ, thì phải tìm mọi phương thế thích hợp giúp người đó hiểu đúng và thoát được sai lầm" 238 .
Số 2479 Nói xấu và vu khống huỷ hoại thanh danh và danh dự của người lân cận. Mà danh dự là bằng chứng của xã hội đối với nhân phẩm, và mỗi người có quyền tự nhiên được hưởng danh dự, thanh danh và sự tôn trọng. Vì vậy, nói xấu và vu khống là phạm đến các nhân đức công bằng và bác ái.
Số 2480 Mọi lời nói và mọi thái độ sau đây đều phải bị cấm: nịnh hót, bợ đỡ hoặc tâng bốc để thúc đẩy và khuyến khích kẻ khác làm điều xấu và hành động cách sai lầm. Bợ đỡ là một lỗi phạm nghiêm trọng, nếu là đồng lõa với các thói xấu hoặc các tội nghiêm trọng. Ý muốn giúp đỡ hoặc tình bằng hữu không biện minh được cho lời nói hai lòng. Bợ đỡ là một tội nhẹ khi chỉ có ý để lấy lòng người khác, để tránh một điều xấu, thoát khỏi một tình thế khó khăn hay để đạt được những lợi ích chính đáng.
Số 2481 Khoe khoang hoặc khoác lác là một lỗi phạm nghịch với chân lý. Cũng phải nói như vậy về châm biếm, khi có ý làm mất uy tín một ai đó, bằng cách diễu cợt, với ý xấu, một điều gì trong cách hành động của người đó.
Số 2482 “Nói dối là nói điều sai, với ý định đánh lừa kẻ khác 239 . Chúa tố giác sự nói dối là công việc của ma quỷ: “Cha các ngươi là ma quỷ .... Sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối và là cha sự gian dối” (Ga 8,44).
Số 2483 Nói dối là sự xúc phạm trực tiếp nhất đến chân lý. Nói dối là nói hay hành động nghịch với chân lý để dẫn đến sự sai lầm. Nói dối, vì làm hại cho tương quan của con người với chân lý và với người lân cận, nên xúc phạm đến tương quan nền tảng giữa con người và lời nói của con người với Chúa.
Số 2484 Tính nghiêm trọng của tội nói dối được đo lường tuỳ theo bản chất của chân lý mà tội đó đã làm sai lạc, tùy theo các hoàn cảnh và các ý hướng của kẻ nói dối, và những thiệt hại mà các nạn nhân của nó phải hứng chịu. Nếu sự nói dối tự nó chỉ là tội nhẹ, thì cũng trở thành tội trọng, khi nó xúc phạm cách nghiêm trọng đến các nhân đức công bằng và bác ái.
Số 2485 Sự nói dối tự bản chất là đáng lên án. Nó làm mất giá trị của lời nói, vốn có mục tiêu là truyền thông cho kẻ khác chân lý mình đã biết. Chủ ý đưa người khác vào sai lầm, bằng những khẳng định nghịch với chân lý, là lỗi phạm đến công bằng và bác ái. Tính quy tội càng lớn hơn, khi ý hướng đánh lừa có nguy cơ gây ra những hậu quả tai hại cho những ai bị lìa xa điều chân thật.
Số 2486 Sự nói dối (bởi vì xúc phạm đến nhân đức chân thật), thật sự là một bạo lực đối với tha nhân. Nó làm tổn thương người đó về khả năng nhận thức, là điều kiện của mọi phán đoán và mọi quyết định. Nó là mầm mống sự chia rẽ giữa các tâm trí và mầm mống mọi điều xấu do chia rẽ gây ra. Nói dối là tai họa cho mọi xã hội; nó phá hủy sự tin tưởng giữa con người và cắt đứt các tương quan dệt nên xã hội.
Số 2487 Bất cứ lỗi phạm nào nghịch với sự công bằng và chân lý đều đòi phải có bổn phận đền bù, mặc dù tác giả của nó đã được tha thứ. Khi không thể đền bù lỗi phạm cách công khai, thì phải làm cách kín đáo; nếu không thể đền bù cách trực tiếp cho người bị hại, thì phải đền bù cho người ấy một cách luân lý, vì lý do bác ái. Bổn phận đền bù này cũng liên quan tới những lỗi phạm nghịch với thanh danh của người khác. Việc đền bù này – đền bù luân lý (moralis reparatio) và có khi là đền bù vật chất (materialis reparatio), phải được thẩm định theo mức độ sự thiệt hại đã gây ra. Sự đền bù bắt buộc theo lương tâm.
IV. TÔN TRỌNG CHÂN LÝ Số 2488 Quyền truyền thông chân lý không phải là tuyệt đối. Mỗi người phải sống phù hợp với giới luật yêu thương huynh đệ của Tin Mừng. Trong những trường hợp cụ thể, giới luật này đòi hỏi phải cân nhắc cẩn thận xem có phải tỏ bày sự thật, hay không tỏ bày, cho người yêu cầu.
Số 2489 Đức mến và sự tôn trọng chân lý phải quyết định câu trả lời cho mọi yêu cầu thông tin hay truyền thông. Lợi ích và sự an toàn của tha nhân, sự tôn trọng đời tư, công ích, là những lý do đủ để làm thinh không nói điều người khác không được biết, hay để dùng lời lẽ khôn ngoan. Bổn phận tránh gây gương xấu thường đòi buộc phải im lặng nghiêm ngặt. Không ai bị buộc phải tỏ bày một sự thật cho người không có quyền được biết 240 .
Số 2490 Bí mật của bí tích Giao Hoà là thánh thiêng và không được tiết lộ bất cứ vì lý do nào. “Ân tín bí tích là điều bất khả xâm phạm; vì thế, tuyệt đối cấm cha giải tội không được tiết lộ hối nhân bằng lời nói hay bằng cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì” 241 .
Số 2491 Những bí mật nghề nghiệp – chẳng hạn, của các nhà chính trị, quân nhân, y sĩ, luật gia – hoặc chuyện tâm sự có lời thề giữ kín, phải được giữ bí mật, trừ những trường hợp ngoại lệ, là khi việc giữ bí mật sẽ gây ra cho người nói, người nghe, hoặc một đệ tam nhân, những thiệt hại rất nghiêm trọng, và chỉ có thể tránh được những điều đó bằng việc nói ra sự thật. Những chuyện riêng tư, mặc dầu không có lời thề giữ kín, cũng không được tiết lộ nếu có hại cho tha nhân, trừ khi có lý do nghiêm trọng và tương xứng.
Số 2492 Mỗi người buộc phải giữ sự thận trọng chính đáng đối với đời tư của các nhân vị. Những người có trách nhiệm về truyền thông phải giữ sự quân bình chính đáng giữa các đòi hỏi của công ích với sự tôn trọng các quyền cá nhân. Sự xâm phạm của thông tin vào đời tư của những người hoạt động chính trị hoặc hoạt động công cộng là đáng lên án, tuỳ theo mức độ nó phạm đến sự riêng tư và sự tự do của họ.
V. SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI Số 2493 Trong xã hội hiện đại, các phương tiện truyền thông xã hội có một vai trò khá quan trọng trong việc thông tin, việc thăng tiến văn hóa và việc đào tạo. Vai trò này gia tăng vì các tiến bộ kỹ thuật, vì lượng thông tin phong phú và đa dạng, vì ảnh hưởng của nó trên dư luận.
Số 2494 Việc thông tin nhờ các phương tiện truyền thông nhằm phục vụ công ích 242 . Xã hội có quyền được biết những thông tin dựa trên sự thật, sự tự do, đức công bằng và tình liên đới. “Việc thực thi đúng đắn quyền này đòi hỏi nội dung của việc truyền thông phải luôn xác thực và, vẫn giữ đức công bằng và bác ái, phải luôn đầy đủ; ngoài ra, về cách thức, truyền thông phải lương thiện và thích hợp, nghĩa là, phải tuyệt đối tuân giữ các luật luân lý, các quyền hợp pháp và phẩm giá của con người, cả trong việc săn tin lẫn việc loan tin" 243 .
Số 2495 “Điều cần thiết là mọi thành phần của xã hội cũng phải chu toàn các bổn phận công bằng và bác ái của mình trong lãnh vực này; vì vậy, họ cũng phải sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để góp phần làm nên và truyền bá những dư luận lành mạnh 244 . Tình liên đới xuất hiện như hiệu quả của sự truyền thông chân thật và công bằng, và của việc tự do lưu hành các ý tưởng, là những điều cổ võ sự hiểu biết và tôn trọng tha nhân.
Số 2496 Những phương tiện truyền thông xã hội (đặc biệt những phương tiện thông tin đại chúng) có thể làm phát sinh một tâm hồn thụ động nào đó nơi những người tiếp nhận, khiến họ trở thành những người tiêu thụ thiếu cảnh giác đối với những thông tin và hình ảnh được phổ biến. Bởi vậy, những người tiếp nhận phải giữ điều độ và kỷ luật đối với các phương tiện thông tin đại chúng. Họ phải tạo cho mình một lương tâm sáng suốt và ngay thẳng, nhờ đó họ có thể chống lại những ảnh hưởng thiếu lương thiện một cách dễ dàng hơn.
Số 2497 Chính vì nhiệm vụ của mình, những người có trách nhiệm về việc thông tin, khi phổ biến thông tin, có nghĩa vụ phục vụ chân lý và không được xúc phạm tới đức bác ái. Họ cũng phải cố gắng để vừa tôn trọng bản chất các sự kiện, vừa tôn trọng những giới hạn của việc phê phán các nhân vị. Họ phải tránh phỉ báng.
Số 2498 "Quyền bính dân sự có những bổn phận đặc biệt trong vấn đề này vì công ích.... Vì nhiệm vụ của mình, họ phải bảo vệ và bênh vực sự tự do đích thực và chính đáng trong việc thông tin 245 . Bằng cách ban hành các luật lệ và xem xét việc áp dụng các luật lệ đó, công quyền phải bảo đảm “kẻo việc sử dụng sai các phương tiện truyền thông khiến gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho phong hoá và cho những tiến bộ của xã hội” 246 . Họ phải trừng phạt việc vi phạm quyền giữ thanh danh và bí mật đời tư của mỗi người. Chính quyền phải thông báo kịp thời và đúng đắn những thông tin liên hệ đến lợi ích của đại chúng hoặc giải đáp những bận tâm chính đáng của dân chúng. Không gì có thể biện minh cho việc dùng những phương tiện truyền thông để đưa ra những thông tin sai lạc nhằm lèo lái dư luận. Những can thiệp của chính quyền không được làm tổn thương sự tự do của các cá nhân và các nhóm.
Số 2499 Ý thức luân lý tố giác tai hoạ của các Nhà Nước độc tài, xuyên tạc chân lý một cách có hệ thống, dùng các phương tiện truyền thông để thống trị dư luận về chính trị, “giật dây” các bị cáo và chứng nhân trong các vụ án công khai và cho rằng họ củng cố được ách chuyên chế của họ bằng cách ngăn chặn và đàn áp những gì họ coi như “trọng tội về tư tưởng”.
VI. CHÂN LÝ, VẺ ĐẸP VÀ NGHỆ THUẬT THÁNH Số 2500 Niềm vui tinh thần và vẻ đẹp luân lý, đi đôi với việc thực thi điều thiện. Cũng vậy, chân lý mang lại niềm vui và ánh huy hoàng của vẻ đẹp tinh thần. Chân lý, tự nó, là đẹp. Chân lý được diễn tả bằng lời nói, sự diễn tả hữu lý của nhận thức về thực tại được tạo dựng và không được tạo dựng, là cần thiết cho con người đã được phú ban trí tuệ, nhưng chân lý cũng có thể được con người diễn tả bằng những hình thức khác nhau, để bổ túc cho nhau, nhất là khi vấn đề phải gợi lên lại bao hàm điều khôn tả, những điều sâu thẳm của trái tim con người, những điều cao vời của linh hồn và mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ngay trước khi Ngài tự mạc khải cho con người bằng những lời chân lý, Thiên Chúa đã được mạc khải cho họ qua ngôn ngữ phổ quát là công trình tạo dựng, tác phẩm của Ngôi Lời của Ngài, của Đức Khôn Ngoan của Ngài: qua trật tự và sự hài hoà của vũ trụ – cả trẻ thơ lẫn nhà khoa học đều khám phá được –, “vì các thọ tạo càng lớn lao đẹp đẽ, thì càng giúp nhận ra Đấng tạo thành (Kn 13,5), “vì chính Đấng Tạo Hoá mọi loài là tác giả của muôn vẻ đẹp” (Kn 13,3). Thật vậy, Đức Khôn Ngoan “tỏa ra từ quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ vinh hiển Đấng Toàn Năng, nên không thể vương một tì ố; Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Ngài (Kn 7,25-26). “Đức Khôn Ngoan rực rỡ hơn mặt trời, trổi vượt muôn tinh tú; so với Đức Khôn Ngoan, ánh sáng còn kém xa. Bởi trước màn đêm, ánh sáng đành phải lui bước. Còn Đức Khôn Ngoan, chẳng gian tà nào thắng nổi” (Kn 7,29-30). “Vẻ đẹp của Đức Khôn Ngoan làm tôi say đắm” (Kn 8,2).
Số 2501 “Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa” 247 , con người cũng diễn tả chân lý về tương quan của mình với Thiên Chúa Sáng Tạo bằng vẻ đẹp của các tác phẩm nghệ thuật của mình. Thật vậy, nghệ thuật là một hình thức diễn tả chỉ riêng con người mới có; vượt lên trên việc cố gắng thoả mãn những nhu cầu sinh tồn, là điều chung của mọi sinh vật, nghệ thuật là sự đầy tràn chan chứa, được ban tặng cách nhưng không, sự giàu sang nội tâm của con người. Xuất phát từ tài năng do Đấng Tạo Hoá ban, và từ nỗ lực của chính con người, nghệ thuật là một hình thức của sự khôn ngoan thực tiễn, kết hợp kiến thức với tài khéo léo 248 , để tạo hình thể cho chân lý của một thực tại, bằng thứ ngôn ngữ có thể cảm nhận được bằng mắt thấy và bằng tai nghe. Như vậy nghệ thuật bao hàm một sự tương tự nào đó với hoạt động của Thiên Chúa trong công trình tạo dựng, theo mức độ nghệ thuật được gợi hứng bởi chân lý về vạn vật và lòng yêu mến vạn vật. Cũng như bất cứ hoạt động nào khác của con người, nghệ thuật không có mục đích tuyệt đối nơi chính nó, nhưng được quy hướng về con người, và trở nên cao quý nhờ mục đích tối hậu là con người 249 .
Số 2502 Nghệ thuật thánh sẽ thật và đẹp, khi nhờ hình thức thích hợp, nó đáp ứng với ơn gọi riêng của nó: trong đức tin và trong sự tôn thờ, nghệ thuật thánh gợi lên và tôn vinh mầu nhiệm siêu việt của Thiên Chúa, vẻ đẹp siêu phàm vô hình của chân lý và của tình yêu, đã xuất hiện nơi Đức Kitô, Đấng “là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1,3), “nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Cl 2,9), Người là vẻ đẹp thiêng liêng đang toả chiếu nơi Đức Trinh Nữ rất thánh Mẹ Thiên Chúa, nơi các Thiên thần và các Thánh. Nghệ thuật thánh đích thực đưa con người đến việc tôn thờ, việc cầu nguyện và việc yêu mến Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá và Cứu Độ, Đấng Thánh Thiện và Thánh Hóa.
Số 2503 Vì vậy, các Giám mục, hoặc chính các ngài hoặc qua các vị đại diện, phải lưu tâm cổ võ nghệ thuật thánh, cổ truyền cũng như hiện đại, trong mọi hình thức của nó, và, cũng với sự lưu tâm đạo hạnh đó, loại trừ khỏi phụng vụ và những nơi thờ phượng mọi điều không phù hợp với chân lý đức tin và với vẻ đẹp đích thực của nghệ thuật thánh 250 .
TÓM LƯỢC Số 2504 “Ngươi không được làm chứng gian hại người” (Xh 20,16). Các môn đệ của Đức Kitô đã “mặc lấy con người mới là con người đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,24).
Số 2505 Chân lý hoặc sự chân thật là một nhân đức, cốt tại việc con người tỏ ra mình thành thật trong các hành vi của mình, và thành thật trong các lời nói của mình, tránh xa lối sống hai mặt, dối trá và đạo đức giả.
Số 2506 Kitô hữu không được “hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa” (2 Tm 1,8) bằng việc làm cũng như bằng lời nói. Sự tử đạo là việc làm chứng cao cả nhất cho chân lý đức tin.
Số 2507 Sự tôn trọng thanh danh và danh dự của các nhân vị cấm mọi thái độ và mọi lời nói nhằm nói xấu hay vu khống.
Số 2508 Nói dối là nói điều sai sự thật, với ý định đánh lừa người lân cận.
Số 2509 Ai lỗi phạm nghịch với chân lý thì buộc phải đền bù.
Số 2510 “Khuôn vàng thước ngọc” (“Regula aurea"), trong những trường hợp cụ thể, giúp chúng ta phân định xem có phải tỏ bày sự thật, hay không tỏ bày, cho người yêu cầu.
Số 2511 “Ấn tín bí tích là điều bất khả xâm phạm 251 . Các bí mật nghề nghiệp phải được giữ kín. Không được tiết lộ những chuyện tâm sự có thể làm hại cho những người khác.
Số 2512 Xã hội có quyền được biết những thông tin dựa trên sự thật, sự tự do, đức công bằng. Phải giữ điều độ và kỷ luật khi sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội.
Số 2513 Mỹ thuật, nhưng chủ yếu là nghệ thuật thánh, “tự bản chất, nhằm diễn tả vẻ đẹp vô biên của Thiên Chúa, được cảm nghiệm một cách nào đó qua những tác phẩm của con người; nghệ thuật này càng làm cho Thiên Chúa được ca tụng và tôn vinh hơn, một khi những tác phẩm đó không nhằm chủ đích nào khác, ngoài sự góp phần tối đa để quy hướng tâm trí con người sốt sắng về cùng Thiên Chúa 252 . Mục 9: Điều Răn Thứ Chín Lời Chúa “Ngươi không được ham muốn nhà người ta. Ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi nam tớ nữ, con bò, con lừa hay bất cứ vật gì của người ta (Xh 20,17). “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi (Mt 5,28).
Số 2514 Thánh Gioan phân biệt ba loại ham muốn hoặc dục vọng: dục vọng của xác thịt, dục vọng của đôi mắt, và lối sống kiêu kỳ 253 . Theo truyền thống dạy giáo lý Công giáo, điều răn thứ chín cấm dục vọng của xác thịt, điều răn thứ mười cấm thèm muốn của cải của tha nhân.
Số 2515 Theo ngữ nguyên, “dục vọng” có thể chỉ mọi hình thức ước muốn của con người. Thần học Kitô giáo dùng từ này với nghĩa đặc biệt chỉ ham muốn của giác quan đi ngược với hoạt động của lý trí con người. Thánh Phaolô so sánh nó với sự nổi loạn của “xác thịt chống lại “tinh thần” 254 . Dục vọng xuất phát từ sự bất tuân của tội đầu tiên 255 . Nó làm hỗn loạn các năng lực luân lý con người và, dù tự nó không phải là tội, nhưng nó hướng con người đến chỗ phạm tội 256 .
Số 2516 Bởi vì con người là một hữu thể phức hợp, tinh thần và thể xác, nên trong con người đã sẵn có một sự căng thẳng nào đó, một cuộc chiến đấu nào đó giữa các khuynh hướng của “tinh thần” và của “xác thịt”. Nhưng thật ra, cuộc chiến đó là di sản của tội lỗi, vừa là hậu quả, vừa là một bằng chứng của tội. Đây là kinh nghiệm hằng ngày về cuộc chiến thiêng liêng: “Đối với thánh Tông Đồ, vấn đề không phải là khinh thường hay kết án thân xác, vì cùng với linh hồn thiêng liêng, thân xác tạo nên bản tính của con người và nhân cách chủ quan của mỗi người. Trái lại thánh Tông Đồ nói đến những công việc, hay nói đúng hơn, đến những thói quen bền vững tốt hoặc xấu về mặt luân lý các nhân đức và các thói xấu, là kết quả của sự vâng phục (trong trường hợp thứ nhất) hoặc của sự chống đối (trong trường hợp thứ hai) đối với hành động cứu độ của Chúa Thánh Thần. Vì vậy ngài viết: 'Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước (G1 5,25)" 257 .
I. THANH TẨY TRÁI TIM Số 2517 Trái tim là nơi của nhân cách luân lý: “Tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm” (Mt 15,19). Cuộc chiến đấu chống lại dục vọng xác thịt phải cần đến việc thanh tẩy trái tim và thực thi đức tiết độ: “Hãy sống đơn sơ, trong trắng, thì bạn sẽ nên như trẻ thơ, không biết đến điều ác đang hủy hoại đời sống con người” 258 .
Số 2518 Mối phúc thứ sáu công bố: “Phúc thay ai có trái tim trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Những người có “trái tim trong sạch là những người biết làm cho trí tuệ và ý chí của mình phù hợp với những đòi hỏi của sự thánh thiện của Thiên Chúa, chủ yếu trong ba lãnh vực: trong đức mến 259 , trong sự khiết tịnh hoặc sự ngay thẳng về tính dục 260 , trong sự yêu mến chân lý và đức tin chính thống 261 . Có mối dây liên kết giữa sự trong sạch của trái tim, của thân thể và của đức tin: Các tín hữu phải tin các điều trong Tín biểu, “để nhờ tin, họ vâng phục Thiên Chúa, nhờ vâng phục, họ sống ngay thẳng, nhờ sống ngay thẳng, họ thanh luyện trái tim, và nhờ thanh luyện trái tim, họ có thể hiểu điều họ tin 262 .
Số 2519 Những người có “trái tim trong sạch được hứa là sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa mặt giáp mặt và trở nên giống như Ngài 263 . Sự trong sạch của trái tim là điều kiện tiên quyết để được thấy Thiên Chúa. Ngay từ bây giờ, trái tim trong sạch giúp chúng ta biết nhìn mọi sự theo cái nhìn của Thiên Chúa, biết đón nhận tha nhân như “người lân cận”; trái tim trong sách khiến chúng ta biết nhận ra thân thể con người, của mình và của người lân cận, như đền thờ của Chúa Thánh Thần, như sự biểu lộ vẻ đẹp thần linh.
II. CHIẾN ĐẤU ĐỂ SỐNG TRONG SẠCH Số 2520 Bí tích Rửa Tội đem đến cho người lãnh nhận ơn thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi. Nhưng người đã chịu Phép Rửa còn phải tiếp tục chiến đấu chống lại dục vọng xác thịt và những ham muốn vô trật tự. Với ân sủng của Thiên Chúa, họ sẽ đạt được điều đó: Nhờ nhân đức và ơn khiết tịnh, bởi vì đức khiết tịnh cho phép yêu thương bằng trái tim ngay thẳng và không phân chia; Nhờ ý hướng trong sạch, cốt tại việc nhắm đến mục đích thật của con người: với cái nhìn đơn sơ, người đã chịu Phép Rửa cố gắng tìm kiếm và chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự 264 ; Nhờ cái nhìn trong sạch, bên ngoài và trong lòng; nhờ kiểm soát được các giác quan và trí tưởng tượng; nhờ khước từ mọi vui thú trong những tư tưởng không trong sạch, lôi kéo ta lìa xa con đường các giới răn của Thiên Chúa: “Thấy điều xấu, kẻ ngu si động lòng ham muốn” (Kn 15,5): Nhờ cầu nguyện: “Con cứ tưởng tiết dục được là do tự sức của riêng mình (...) nhưng thực ra con đâu có biết. Con quá khờ dại nên không biết rằng, nếu Chúa không ban ơn, thì không ai có thể sống tiết dục được. Con chắc chắn Chúa sẽ ban ơn, nếu con tha thiết kêu cầu và vững tin phó thác nơi Chúa" 265 .
Số 2521 Sự trong sạch đòi phải có sự nết na. Đây là một phần không thể thiếu của đức tiết độ. Sự nết na giữ gìn sự thân mật của con người. Nó từ chối phô bày những gì phải giữ kín. Nó hướng về đức khiết tịnh và cũng chứng tỏ sự dè dặt của đức khiết tịnh. Sự nết na hướng dẫn cái nhìn và cử chỉ cho phù hợp với phẩm giá của con người và phẩm giá của sự kết hợp của họ.
Số 2522 Sự nết na bảo vệ mầu nhiệm của con người và mầu nhiệm của tình yêu của họ. Nó mời gọi nhẫn nại và điều độ trong quan hệ yêu đương; nó đòi hỏi tuân giữ các điều kiện của sự dâng hiến và của nghĩa vụ vĩnh viễn giữa người nam và người nữ. Sự nết na chính là sự đoan trang. Nó gợi hứng cho việc lựa chọn y phục. Nó giữ thinh lặng hay dè dặt, khi có nguy cơ tò mò thiếu lành mạnh. Sự nết na chính là sự thận trọng.
Số 2523 Có sự nết na của tình cảm cũng như của thân xác. Chẳng hạn, nết na chống lại việc phơi bày thân xác con người để thỏa mãn thị dục trong quảng cáo, hoặc chống lại việc các phương tiện truyền thông đi quá xa trong việc khai thác những điều thầm kín thân mật. Sự nết na gợi hứng cho một cách sống, giúp chống lại những quyến rũ của thời trang và áp lực của các trào lưu tư tưởng thời thượng.
Số 2524 Cách thức giữ sự nết na khác nhau theo từng nền văn hóa. Tuy nhiên bất cứ ở đâu, nó vẫn là một trực cảm về phẩm giá thiêng liêng đặc thù của con người. Sự nết na phát sinh do sự ý thức rằng mình là một chủ thể. Dạy cho trẻ em và thiếu niên nam nữ biết giữ nết na là khơi dậy sự tôn trọng nhân vị.
Số 2525 Đức trong sạch Kitô giáo đòi hỏi sự thanh tẩy bầu khí xã hội. Điều này đòi hỏi các phương tiện truyền thông xã hội phải quan tâm đến sự tôn trọng và sự thận trọng trong việc thông tin. Sự trong sạch của trái tim giải thoát khỏi nạn khiêu dâm đang lan tràn và đẩy xa những màn trình diễn nhằm khuyến khích sự tò mò không trong sạch và những hình ảnh không đứng đắn.
Số 2526 Chủ trương sống phóng túng phát xuất từ quan niệm sai lạc về sự tự do của con người. Muốn có tự do đích thực, điều tiên quyết là con người phải được giáo dục về luật luân lý. Phải đòi hỏi những người có trách nhiệm giáo dục dạy cho người trẻ biết tôn trọng sự thật, các phẩm chất của trái tim và phẩm giá luân lý và thiêng liêng của con người.
Số 2527 “Tin Mừng của Đức Kitô không ngừng đổi mới đời sống và văn hóa của con người đã sa ngã, chống lại và loại bỏ những sai lầm và điều xấu, xuất phát do sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi. Tin Mừng không ngừng thanh tẩy và nâng cao các phong hóa của các dân tộc. Nhờ những nguồn phong phú từ trên cao, Tin Mừng làm trổ sinh hoa trái, như từ bên trong, các phẩm chất tinh thần và các truyền thống của mỗi dân tộc và mỗi thời đại. Tin Mừng củng cố, kiện toàn và phục hồi những điều đó trong Đức Kitô" 266 .
TÓM LƯỢC Số 2528 “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,28).
Số 2529 Điều răn thứ chín khơi dậy sự tỉnh thức chống lại sự ham muốn hoặc dục vọng xác thịt.
Số 2530 Cuộc chiến đấu chống lại dục vọng xác thịt phải cần đến việc thanh tẩy trái tim và thực thi đức tiết độ.
Số 2531 Sự trong sạch của trái tim sẽ làm cho chúng ta được nhìn thấy Thiên Chúa: ngay từ bây giờ, trái tim trong sạch giúp chúng ta biết nhìn mọi sự theo cái nhìn của Thiên Chúa.
Số 2532 Sự thanh tẩy trái tim đòi hỏi việc cầu nguyện, thực thi đức khiết tịnh, sự trong sạch của ý hướng và của cái nhìn.
Số 2533 Sự trong sạch của trái tim đòi hỏi sự nết na, nghĩa là nhẫn nại, đoan trang và thận trọng. Sự nết na gìn giữ sự thân mật của con người. Mục 10: Điều Răn Thứ Mười Lời Chúa “Ngươi không được ham muốn bất cứ vật gì của người ta" (Xh 20,17). “Ngươi không được thèm muốn nhà của người ta, đồng ruộng, tôi tớ nam nữ, con bò, con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta” (Đnl 5,21). “Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (Mt 6,21).
Số 2534 Điều răn thứ mười giải thích và bổ túc điều răn thứ chín, là điều răn về dục vọng xác thịt. Điều răn thứ mười cấm sự ham muốn của cải của người khác, là cội rễ của tội trộm cắp, cướp đoạt và gian lận, mà điều răn thứ bảy đã cấm. “Dục vọng của đôi mắt” (1 Ga 2,16) đưa đến bạo lực và sự bất công, mà điều răn thứ năm đã cấm 267 . Sự ham muốn, cũng như sự gian dâm, bắt nguồn từ việc thờ ngẫu tượng mà ba điều răn đầu của Lề Luật đã cấm 268 . Điều răn thứ mười nhắm đến ý hướng của trái tim; và cùng với điều răn thứ chín, điều răn thứ mười tóm kết tất cả các điều răn của Lề Luật.
I. SỰ VÔ TRẬT TỰ CỦA CÁC HAM MUỐN Số 2535 Sự ham muốn giác quan khiến chúng ta ước muốn những điều thích thú mà chúng ta không có. Chẳng hạn muốn ăn khi đói, hay mong được sưởi ấm khi lạnh. Những ước muốn này tự chúng là tốt; nhưng chúng thường không giữ sự điều độ của lý trí và thúc đẩy chúng ta ham muốn cách bất chính điều không phải của chúng ta và điều thuộc về tha nhân hay mắc nợ họ.
Số 2536 Điều răn thứ mười cấm sự tham lam và ước muốn sở hữu của cải trần thế cách vô chừng mực; cấm sự ham muốn phát sinh do đam mê vô độ của cải và quyền lực do của cải đem lại. Điều răn này cũng cấm ước muốn làm điều bất công gây thiệt hại cho người lân cận về của cải trần thế của họ. “Khi Lề luật dạy: 'Chớ tham của người', thì có nghĩa là chúng ta đừng ham muốn những gì của người khác. Thật vậy, sự khao khát ham muốn của cải của người khác thì bao la, vô tận và chẳng bao giờ được thoả mãn, như đã chép rằng: 'Người thích tiền bạc có bao nhiêu cũng không lấy làm đủ' (Gv 5,9) 269 .
Số 2537 Không vi phạm điều răn này khi ước muốn những điều thuộc về người lân cận, miễn là bằng những phương thế chính đáng. Việc dạy giáo lý truyền thống nêu ra một cách thực tế, “những người phải vất vả hơn những người khác về thói xấu ham muốn này” và vì vậy phải “được nhắc nhở cách chuyên cần hơn để tuân giữ điều răn này": “Đó là... những nhà buôn ước muốn hàng hóa khan hiếm và nâng cao giá cả, những người chỉ muốn độc quyền mua bán, để có thể bán với giá cao hơn và mua với giá rẻ hơn; những người muốn kẻ khác gặp hoạn nạn để trục lợi, hoặc bằng cách bán cho họ hoặc bằng cách mua của họ...; những thầy thuốc muốn cho bệnh tật lây lan; những luật sư mong cho có nhiều vụ kiện cáo quan trọng 270 .
Số 2538 Điều răn thứ mười đòi hỏi phải loại trừ sự ganh tị khỏi trái tim con người. Khi muốn khuyến giục vua Đavid thống hối, tiên tri Nathan đã kể cho vua câu chuyện của một người nghèo, chỉ có một con chiên và thương yêu nó như con mình, và một người giàu, tuy có vô số chiên cừu, nhưng lại ganh tị với người kia và cuối cùng ăn cắp con chiên của người nghèo 271 . Sự ganh tị có thể đưa tới việc làm tồi tệ nhất 272 . “Chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian" (Kn 2,24): “Chúng ta đấm đá nhau, đó là vì sự ganh tị võ trang cho chúng ta chống lại nhau.... Nếu mọi người đều cố phá rối Thân Thể của Đức Kitô, thì rồi chúng ta sẽ đi tới đâu? Chúng ta đang làm cho Thân Thể của Đức Kitô thành một xác chết.... Chúng ta xưng mình là những chi thể của cùng một thân thể, vậy mà chúng ta lại cấu xé nhau như những thú rừng 273 .
Số 2539 Ganh tị là một trong bảy mối tội đầu. Ganh tị chỉ sự buồn bực khi thấy kẻ khác có của cải, và sự ước ao vô độ muốn lấy của cải đó làm của mình, thậm chí bằng cách bất chính. Khi ganh tị lại kèm theo ước muốn cho người khác gặp hoạn nạn nặng nề, thì đó là một tội trọng: Thánh Augustinô coi ganh tị là “thói xấu của ma quỷ" 274 . “Ganh tị sinh ra thù ghét, nói xấu, vu khống, vui khi thấy kẻ khác gặp hoạn nạn, buồn khi thấy kẻ khác được may lành 275 .
Số 2540 Ganh tị là một hình thức của sự buồn bực và vì vậy là sự khước từ đức mến; người đã chịu Phép Rửa phải chiến đấu chống lại nó bằng sự nhân hậu. Ganh tị thường do kiêu ngạo; người đã chịu Phép Rửa phải tập sống khiêm nhường: “Phần tôi, tôi muốn Thiên Chúa được tôn vinh. Còn bạn, bạn hãy vui mừng vì người anh em được thành công, và Thiên Chúa sẽ được tôn vinh nhờ bạn, và mọi người sẽ nói 'Chúc tụng Thiên Chúa, Đấng đã có những người tôi tớ như thế, những người đã được tự do không còn ganh tị, những người vui mừng về điều tốt của tha nhân" 276 .
II. NHỮNG ƯỚC MUỐN CỦA THẦN KHÍ Số 2541 Nhiệm cục lề luật và ân sủng làm cho trái tim con người thoát khỏi sự ham muốn và sự ganh tị; nhiệm cục đó khai tâm cho lòng ước muốn Sự Thiện trên trời; dạy con người biết những ước muốn của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho trái tim con người no thoả. Thiên Chúa của các lời hứa luôn cảnh giác con người chống lại sự quyến rũ của điều, từ nguyên thủy, xem ra “ăn thì phải ngon, trông thì đẹp mắt và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn” (St 3,6).
Số 2542 Luật được giao phó cho Israel không bao giờ đủ để công chính hóa những người tuân phục luật đó; Luật đó còn trở thành công cụ cho “dục vọng 277 . Sự thiếu quân bình giữa muốn và làm 278 cho thấy sự xung đột giữa một bên là Luật của Thiên Chúa, tức là luật của tâm trí, với bên kia là một luật khác, “giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi” (Rm 7,23).
Số 2543 "Ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến luật Môisen. Điều này, sách Luật và các Tiên tri làm chứng. Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô. Tất cả những ai tin đều được như thế” (Rm 3,21-22). Từ đó, các Kitô hữu “đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá, cùng với các dục vọng và đam mê” (Gl 5,24); họ được Thần Khí hướng dẫn 279 và đi theo những ước muốn của Thần Khí 280 .
III. SỰ NGHÈO KHÓ CỦA TRÁI TIM Số 2544 Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ yêu mến Người trên tất cả mọi sự và mọi người, và mời gọi họ từ bỏ “mọi sự họ có” 281 vì Người và vì Tin Mừng 282 Trước cuộc khổ nạn của Người ít lâu, Người đã cho họ gương bà góa nghèo ở Giêrusalem, bà này, trong cảnh túng cực của mình, đã cho đi tất cả những gì bà có để sống 283 . Lệnh truyền giữ trái tim tự do đối với của cải là bắt buộc để vào được Nước Trời.
Số 2545 Mọi Kitô hữu phải “điều khiển các tình cảm của mình cách đúng đắn, kẻo việc sử dụng của cải trần gian và sự gắn bó với sự giàu sang nghịch với tinh thần khó nghèo của Tin Mừng, cản trở họ theo đuổi sự trọn hảo của đức mến” 284 .
Số 2546 "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó (Mt 5,3). Các mối phúc cho chúng ta thấy trật tự của hạnh phúc và ân sủng, của vẻ đẹp và sự bình an. Chúa Giêsu tán dương niềm vui của những người nghèo, Nước Trời đã là của họ 285 . “Tôi thấy Ngôi Lời gọi sự khiêm tốn tự nguyện của tâm hồn là 'sự nghèo khó trong tinh thần', và thánh Tông Đồ nêu lên cho chúng ta tấm gương nghèo khó của Thiên Chúa, khi ngài nói: 'Người đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em' (2 Cr 8,9)” 286 .
Số 2547 Chúa khóc thương những người giàu có, bởi vì họ đã được an ủi 287 trong của cải dư dật. “Kẻ kiêu căng tìm kiếm và yêu thích các nước trần gian, còn: Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ 288 . Việc phó thác cho sự quan phòng của Cha trên trời giải thoát khỏi những âu lo về ngày mai. Sự tín thác vào Thiên Chúa chuẩn bị cho việc hưởng vinh phúc của những người nghèo 289 . Họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa.
IV. “TÔI MUỐN NHÌN THẤY THIÊN CHÚA” Số 2548 Sự ước muốn vinh phúc đích thực giúp con người thoát khỏi tình cảm vô độ đối với của cải của trần gian, để ước muốn đó được hoàn thành trong sự chiêm ngắm và vinh phúc của Thiên Chúa. “Quả thật, lời hứa [được nhìn thấy Thiên Chúa] là quá đỗi lớn lao, đến nỗi vượt quá giới hạn cuối cùng của vinh phúc.... Vì, theo kiểu nói của Thánh Kinh, nhìn thấy cũng đồng nghĩa với sở hữu.... Cho nên ai nhìn thấy Thiên Chúa, thì đã đạt được mọi phúc lộc mà người ta có thể nghĩ tưởng ra được 290 .
Số 2549 Dân Thánh còn phải chiến đấu để, nhờ ân sủng từ trên cao, đạt được những phúc lợi Thiên Chúa hứa ban. Để sở hữu và chiêm ngắm Thiên Chúa, các Kitô hữu phải chế ngự các ham muốn của mình, và nhờ ân sủng Thiên Chúa, vượt thắng được các quyến rũ của thú vui và quyền lực.
Số 2550 Trên con đường trọn hảo này, Thần Khí và Tân Nương kêu gọi những ai biết lắng nghe 291 tới sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa: “Ở đó sẽ có vinh quang thật, vì ở đó không ai được ca ngợi do bởi lầm lẫn hay nịnh bợ; danh dự thật sẽ không bị khước từ với người xứng đáng, mà cũng không được ban cho kẻ bất xứng; nhưng cũng chẳng có kẻ bất xứng nào sẽ tự cho là mình xứng đáng đến nơi mà không ai được phép đến, trừ ra người xứng đáng. Ở đó sẽ có bình an thật, vì không ai sẽ còn phải chịu đựng điều gì đối nghịch, hoặc do chính mình hoặc do người khác. Chính Thiên Chúa sẽ là phần thưởng của nhân đức, chính Ngài là Đấng đã ban nhân đức và đã hứa ban chính Ngài làm phần thưởng cho nhân đức, mà không có phần thưởng nào tốt hơn và lớn hơn được.... 'Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi, còn các ngươi sẽ là dân của Ta' (Lv 26,12).... Đây cũng đúng là điều thánh Tông Đồ đã nói: “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài (1 Cr 15,28). Chính Ngài sẽ là mục đích của những ước muốn của chúng ta, Ngài sẽ được chiêm ngưỡng không cùng, được yêu mến không chán, được ca ngợi không mỏi mệt. Và hồng ân này, tình cảm này, hành vi này chắc chắn sẽ là chung cho tất cả mọi người, cũng như sự sống vĩnh cửu chung 292 .
TÓM LƯỢC Số 2551 “Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (Mt 6,21).
Số 2552 Điều răn thứ mười cấm sự ham muốn vô trật tự, phát sinh do đam mê vô độ của cải và quyền lực do của cải đem lại.
Số 2553 Ganh tị là buồn bực khi thấy kẻ khác có của cải, và ước ao vô độ muốn lấy của cải đó làm của mình. Ganh tị là một trong bảy mối tội đầu.
Số 2554 Người đã chịu Phép Rửa phải chiến đấu chống lại tính ganh tị bằng sự nhân hậu, khiêm nhường và phó mình cho sự quan phòng của Thiên Chúa.
Số 2555 Các Kitô hữu “đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê (Gl 5,24); họ được Thần Khí hướng dẫn và đi theo các ước muốn của Ngài.
Số 2556 Sự thắng vượt lòng quyến luyến của cải là cần thiết để vào Nước Trời. “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó (Mt 5,3).
Số 2557 Người có lòng ước muốn nói: “Tôi muốn nhìn thấy Thiên Chúa”. Cơn khát Thiên Chúa được thoả mãn bằng nước là đời sống vĩnh cửu 293 .