PHẦN THỨ TƯ: KINH NGUYỆN KITÔ GIÁO ĐOẠN THỨ NHẤT: KINH NGUYỆN TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU Số 2558 “Mầu nhiệm đức tin thật là cao cả”. Hội Thánh tuyên xưng mầu nhiệm ấy trong Tín biểu các Tông Đồ (Phần I) và cử hành trong phụng vụ bí tích (Phần II) để đời sống của các tín hữu nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần hầu tôn vinh Thiên Chúa Cha (Phần III). Vậy mầu nhiệm này đòi buộc các tín hữu phải tin, phải cử hành và phải sống mầu nhiệm ấy trong tương quan sống động và cá vị với Thiên Chúa hằng sống và chân thật. Tương quan này là cầu nguyện. CẦU NGUYỆN LÀ GÌ ? “Đối với tôi, cầu nguyện là sự hướng lòng lên, là cái nhìn đơn sơ hướng về trời, là tiếng kêu tri ân và yêu mến cả trong cơn thử thách lẫn trong lúc vui mừng”. 1
Cầu nguyện xét như hồng ân của Thiên Chúa Số 2559 “Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa hay là cầu xin Thiên Chúa ban cho những điều xứng hợp” 2 . Chúng ta cầu nguyện từ vị trí nào? Từ chỗ cao của tính kiêu căng và ý riêng của chúng ta, hay “từ vực thẳm” (Tv 130,1) của một trái tim khiêm nhường và thống hối? Ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên. Khiêm nhường là nền tảng của cầu nguyện. “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải” (Rm 8,26). Khiêm nhường là thái độ đón nhận cách nhưng không hồng ân cầu nguyện: trước mặt Thiên Chúa, con người là kẻ ăn xin 3
Số 2560 “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban!” (Ga 4,10). Sự kỳ diệu của việc cầu nguyện được mạc khải ngay bên bờ giếng, nơi chúng ta đến tìm nước cho mình. Nơi đó, Đức Kitô đến gặp mọi người; Người đi bước trước trong việc tìm chúng ta và xin nước uống. Chúa Giêsu khát; lời xin của Người xuất phát từ cõi sâu thẳm của Thiên Chúa, Đấng khát mong chúng ta. Cầu nguyện, dù chúng ta có biết điều này hay không, là cuộc gặp gỡ giữa sự khao khát của Thiên Chúa với sự khao khát của chúng ta. Thiên Chúa khát khao chúng ta khao khát Ngài 4 .
Số 2561 “Hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống" (Ga 4,10). Lời cầu xin của chúng ta, một cách nghịch lý, lại là một lời đáp. Là lời đáp lại tiếng than trách của Thiên Chúa hằng sống: “Chúng đã bỏ Ta là mạch nước trường sinh để làm những hồ nứt rạn, không giữ được nước” (Gr 2,13); là lời đáp của đức tin trước Lời hứa ban ơn cứu độ cách nhưng không 5 ; là lời đáp của tình yêu trước nỗi khát khao của Người Con duy nhất 6 .
Cầu nguyện xét như Giao Ước Số 2562 Lời cầu nguyện của con người xuất phát từ đâu? Cho dù cầu nguyện được diễn tả cách nào (qua cử chỉ và lời nói), cũng là trọn cả con người cầu nguyện. Nhưng để chỉ nơi xuất phát việc cầu nguyện, Sách Thánh đôi khi nói đến linh hồn hoặc tinh thần, nhưng thường nhất – hơn một nghìn lần – nói đến trái tim. Chính trái tim cầu nguyện. Nếu trái tim vẫn còn xa Thiên Chúa, thì lời cầu nguyện là vô ích.
Số 2563 Trái tim là nơi ta ở, nơi ta cư ngụ (theo cách nói của người Sêmít hay của Thánh Kinh: nơi ta “bước xuống”). Trái tim là nơi thầm kín của chúng ta mà lý trí của chúng ta cũng như của kẻ khác không thể thấu hiểu được; chỉ có Thần Khí Thiên Chúa có thể thăm dò và biết được nó. Trái tim là nơi diễn ra quyết định, trong cõi sâu thẳm nhất của các xu hướng tâm thần của chúng ta. Đó là nơi của chân lý, nơi chúng ta chọn lựa giữa sự sống và sự chết. Đó cũng chính là nơi để gặp gỡ, bởi vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, nên chúng ta sống (là sống) trong tương quan: trái tim là nơi của giao ước.
Số 2564 Cầu nguyện Kitô giáo là một tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và con người trong Đức Kitô. Đó là hành động của Thiên Chúa và hành động của con người. Lời cầu nguyện xuất phát từ Chúa Thánh Thần và từ chúng ta, hoàn toàn hướng về Chúa Cha, trong sự kết hợp với ý chí nhân loại của Con Thiên Chúa làm người.
Cầu nguyện xét như hiệp thông Số 2565 Trong Giao Ước Mới, cầu nguyện là mối tương quan sống động của con cái Thiên Chúa với Cha vô cùng nhân hậu của mình, với Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô và với Chúa Thánh Thần. Ân sủng của Nước Trời là “sự kết hợp của toàn thể Ba Ngôi Chí Thánh với toàn thể tâm trí con người” 7 . Như vậy, sống cầu nguyện là luôn sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa Chí Thánh và trong sự hiệp thông với Ngài. Việc hiệp thông sự sống này lúc nào cũng có thể thực hiện được, vì nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta đã nên một với Đức Kitô. Sự cầu nguyện mang đặc tính Kitô giáo khi đó là sự hiệp thông với Đức Kitô và được triển nở trong Hội Thánh là Thân Thể Người. Các chiều kích của cầu nguyện cũng chính là những chiều kích của tình yêu Đức Kitô 8 .
CHƯƠNG MỘT: MẠC KHẢI VỀ CẦU NGUYỆN MỌI NGƯỜI ĐƯỢC KÊU GỌI CẦU NGUYỆN Số 2566 Con người đi tìm Thiên Chúa. Khi tạo dựng, Thiên Chúa kêu gọi mọi hữu thể từ hư vô bước vào hiện hữu. “Vì được ban vinh quang và danh dự làm mũ triều thiên” 9 , con người, sau các Thiên thần, có khả năng nhận biết “Danh Chúa lẫy lừng trên khắp địa cầu” 10 . Thậm chí sau khi đã đánh mất vẻ giống như Thiên Chúa vì phạm tội, con người vẫn còn mang hình ảnh của Đấng Tạo Hoá. Con người vẫn duy trì sự khao khát Thiên Chúa, Đấng đã làm cho họ hiện hữu. Mọi tôn giáo đều làm chứng cho sự tìm kiếm căn bản này của con người.
Số 2567 Thiên Chúa kêu gọi con người trước. Dù con người quên lãng Đấng Tạo Hoá của mình hay trốn xa nhan Ngài, dù họ chạy theo các ngẫu tượng của mình hay than trách Thiên Chúa đã bỏ rơi họ, Thiên Chúa hằng sống và chân thật vẫn không ngừng kêu gọi từng người đến gặp Ngài cách huyền nhiệm trong việc cầu nguyện. Trong việc cầu nguyện, bước tình yêu của Thiên Chúa trung tín luôn là bước đầu tiên, còn bước của con người luôn là lời đáp lại. Cũng như Thiên Chúa tự mạc khải và mạc khải cho con người biết về chính họ, thì việc cầu nguyện cũng xuất hiện như một lời kêu gọi hỗ tương, như một thảm trạng của Giao Ước. Qua lời nói và hành động, thảm trạng này thúc giục trái tim. Thảm trạng đó được tỏ cho thấy trong suốt lịch sử cứu độ.
Mục 1: Trong Cựu Ước Số 2568 Mạc khải về cầu nguyện trong Cựu Ước diễn ra giữa việc con người sa ngã và được nâng dậy, giữa tiếng đau thương của Thiên Chúa gọi những đứa con đầu tiên của Ngài: “Ngươi ở đâu?... Ngươi đã làm gì? (St 3,9.13), và lời đáp lại của Người Con độc nhất lúc Người bước vào trần gian: “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài (Dt 10,7). Như vậy, việc cầu nguyện gắn liền với lịch sử loài người; cầu nguyện là tương quan với Thiên Chúa trong những biến cố của lịch sử.
Công trình tạo dựng – nguồn mạch của cầu nguyện Số 2569 Trước hết, đã có việc cầu nguyện ngay từ những thực tại của công trình tạo dựng. Chín chương đầu sách Sáng Thế mô tả mối tương quan này với Thiên Chúa như việc ông Abel dâng cho Chúa những con đầu lòng của bầy chiên 5 , ông Ênóc kêu cầu Danh Chúa 6 và “bước đi với Thiên Chúa” 7 . Lễ dâng của ông Nôê đẹp lòng Thiên Chúa, Ngài chúc phúc cho ông, và qua ông, chúc phúc cho toàn thể công trình tạo dựng 8 , vì lòng ông ngay chính và vẹn toàn; cả ông nữa cũng “đi với Thiên Chúa (St 6,9). Biết bao người công chính trong mọi tôn giáo đã cầu nguyện theo cách thức như thế. Trong giao ước bất diệt với mọi sinh linh 9 , Thiên Chúa luôn kêu gọi con người cầu khẩn Ngài. Nhưng nhất là từ tổ phụ Abraham, việc cầu nguyện mới thật sự được mạc khải trong Cựu Ước.
Lời hứa và lời cầu nguyện của đức tin Số 2570 Ngay khi Thiên Chúa kêu gọi, "ông Abraham ra đi, như Chúa đã phán với ông (St 12,4): trái tim ông hoàn toàn “suy phục Lời Chúa”; ông vâng lời. Sự lắng nghe của trái tim quyết định tuân theo Thiên Chúa là điều cốt yếu của việc cầu nguyện, các lời nói chỉ quy về đó. Nhưng việc cầu nguyện của ông Abraham được diễn tả trước tiên bằng hành động: là con người thinh lặng, ông đã dựng một bàn thờ để kính Chúa ở mỗi chặng dừng chân. Chỉ mãi sau này, lần đầu tiên ông mới cầu nguyện bằng lời: đó là một lời than thở kín đáo, nhắc Thiên Chúa nhớ đến các lời hứa của Ngài, mà xem ra như không được thực hiện. Như vậy, ngay từ đầu đã xuất hiện một trong những khía cạnh của tấn bi kịch cầu nguyện: đó là thử thách đức tin vào sự trung tín của Thiên Chúa.
Số 2571 Vì tin vào Thiên Chúa 11 , đi trước nhan Ngài và trong giao ước với Ngài 12 , tổ phụ Abraham đã sẵn sàng đón tiếp Vị khách huyền bí vào lều trại của mình. Lòng hiếu khách đặc biệt của tổ phụ tại Mambrê mở đường cho Thiên Chúa loan báo về Người Con đích thực của lời hứa 13 . Từ lúc đó, khi được Thiên Chúa bộc lộ cho biết ý định của Ngài, trái tim của tổ phụ Abraham đã hòa theo lòng trắc ẩn của Chúa mình đối với loài người và dám chuyển cầu cho họ với một niềm tin tưởng bạo dạn 14 .
Số 2572 Trong cuộc thanh luyện cuối cùng về đức tin, Thiên Chúa đã đòi ông Abraham, người “đã nhận được lời hứa” (Dt 11,17), phải sát tế đứa con mà Thiên Chúa đã ban cho ông. Ông Abraham vẫn vững tin: “Lễ toàn thiêu, chính Thiên Chúa sẽ liệu” (St 22,8), vì nghĩ rằng “Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy” (Dt 11,19). Như vậy, vị tổ phụ của những người tin đã nên giống Chúa Cha, Đấng chẳng tha chính Con Một của Ngài, nhưng đã trao nộp Người vì hết thảy chúng ta 15 . Nhờ cầu nguyện con người được phục hồi tình trạng “giống như Thiên Chúa và được tham dự vào quyền năng của tình yêu Thiên Chúa, là quyền năng cứu độ muôn người 16 .
Số 2573 Thiên Chúa đã nhắc lại lời hứa của Ngài với ông Giacob, tổ phụ của mười hai chi tộc Israel 17 . Trước khi chạm trán với anh mình là ông Êsau, ông Giacob đã vật lộn suốt đêm với một nhân vật huyền bí. Vị này không chịu nói tên, nhưng đã chúc phúc cho ông Giacob trước khi bỏ đi lúc bình minh. Truyền thống linh đạo của Hội Thánh đã xem trình thuật này là biểu tượng của việc cầu nguyện, xét như cuộc chiến đấu của đức tin và sự chiến thắng của lòng kiên trì 18 .
Ông Môisen và lời cầu nguyện của vị trung gian Số 2574 Khi lời hứa bắt đầu được thực hiện (Vượt qua, Xuất hành, ban Lề luật và ký Giao ước) thì lời cầu nguyện của ông Môisen là hình ảnh nổi bật của lời kinh chuyển cầu sẽ được hoàn thành nơi “Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, là Chúa Giêsu Kitô (1 Tm 2,5).
Số 2575 Ở đây cũng vậy, Thiên Chúa đã đến trước. Ngài gọi ông Môisen từ giữa bụi cây đang cháy. Biến cố này trong truyền thống linh đạo Do Thái và Kitô giáo sẽ tồn tại như một trong những hình ảnh hàng đầu về cầu nguyện. Thật vậy, nếu “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac và Thiên Chúa của Giacob kêu gọi tôi tớ Ngài là ông Môisen, đó là vì chính Ngài là Thiên Chúa hằng sống, Đấng muốn cho con người được sống. Ngài tỏ mình ra để cứu họ, nhưng Ngài không hành động đơn phương hoặc không đếm xỉa đến họ. Vì thế, Ngài gọi ông Môisen để sai ông đi, để ông cộng tác vào lòng trắc ẩn và công trình cứu độ của Ngài. Để sai ông đi, hầu như Thiên Chúa phải năn nỉ, và sau một tranh luận lâu dài, ông Môisen mới thuận theo ý muốn của Thiên Chúa Cứu Độ. Nhưng trong cuộc đối thoại này, Thiên Chúa đã tín nhiệm ông Môisen, còn ông Môisen thì học cho biết cầu nguyện: ông thoái thác, ông thắc mắc, và nhất là ông yêu cầu; và chính để đáp lại lời yêu cầu của ông mà Thiên Chúa đã bộc lộ cho ông Thánh Danh khôn tả của Ngài, Danh sẽ được mạc khải qua những kỳ công của Ngài.
Số 2576 “Thiên Chúa đàm đạo với ông Môisen, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau” (Xh 33,11). Cách cầu nguyện của ông Môisen là khuôn mẫu của việc cầu nguyện chiêm niệm, nhờ đó người tôi tớ của Thiên Chúa mới trung thành với sứ mạng của mình. Ông Môisen “nói chuyện thường xuyên và lâu giờ với Chúa, khi ông lên núi để lắng nghe và cầu khẩn Ngài, khi ông xuống gặp dân để nói lại cho họ những lời của Thiên Chúa và để hướng dẫn họ. “Trong toàn thể nhà của Ta, Môisen là người trung thành nhất! Thật vậy, Ta nói với nó trực diện, nhãn tiền” (Ds 12,7-8), vì “ông Môisen là người hiền lành nhất đời” (Ds 12,3).
Số 2577 Nhờ sống thân mật với Thiên Chúa thành tín, chậm giận và giàu lòng thương xót 20 , ông Môisen đã kín múc được sức mạnh và sự kiên trì để chuyển cầu cho dân. Ông không cầu xin cho bản thân, nhưng cho dân mà Thiên Chúa đã thủ đắc làm dân riêng của Ngài. Ông Môisen đã chuyển cầu trong cuộc chiến với người Amalec 21 , và đã chuyển cầu cho cô Myriam được chữa lành 22 . Nhưng nhất là sau khi dân bội giáo, ông đã “đem thân cản lối” trước nhan Thiên Chúa (Tv 106,23) để cứu dân 23 . Các lý lẽ trong lời cầu nguyện của ông Môisen (lời chuyển cầu cũng là một cuộc chiến nhiệm mầu) sẽ gợi hứng cho sự bạo dạn của những người cầu nguyện thời danh trong dân Do Thái cũng như trong Hội Thánh: Thiên Chúa là tình yêu, nên Ngài cũng công bằng và thành tín. Ngài không thể mâu thuẫn với chính mình, nên Ngài phải nhớ lại các kỳ công của Ngài; vì vinh quang của Ngài, Ngài không thể bỏ rơi dân tộc mang Danh của Ngài.
Vua Đavid và lời cầu nguyện của vị vua Số 2578 Việc cầu nguyện của Dân Thiên Chúa sẽ được triển nở dưới bóng nhà Chúa, hòm bia Giao ước và sau này là Đền thờ. Trước hết, chính những người lãnh đạo dân – các mục tử và tiên tri – dạy cho dân cầu nguyện. Cậu bé Samuel cũng phải học nơi mẹ mình cách “đứng trước nhan Chúa” 24 và học nơi tư tế Êli để biết cách lắng nghe Lời Chúa: “Lạy Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe" (1 Sm 3,9-10). Sau này, chính Samuel cũng biết đến giá trị và tầm quan trọng của lời chuyển cầu: “Phần tôi, không đời nào tôi phạm tội nghịch cùng Chúa là thôi cầu nguyện cho anh em. Tôi sẽ cho anh em biết đường ngay nẻo chính (1 Sm 12,23).
Số 2579 David đặc biệt là vị vua “đẹp lòng Thiên Chúa”, là mục tử cầu nguyện cho toàn dân và nhân danh toàn dân, là con người mà sự tuân phục thánh ý Thiên Chúa, việc ngợi khen Thiên Chúa và lòng ăn năn thống hối của ông sẽ là mẫu mực cho việc cầu nguyện của dân. Là người được Thiên Chúa xức dầu, lời cầu nguyện của vua Đavid là sự gắn bó trung thành với lời hứa của Thiên Chúa 25 , là lòng tín thác đầy yêu mến và hân hoan vào Đấng là Vua và là Chúa duy nhất. Trong các Thánh vịnh, vua Đavid, được Chúa Thánh Thần linh hứng, là vị tiên tri hàng đầu của truyền thống cầu nguyện Do Thái và Kitô giáo. Lời cầu nguyện của Đức Kitô, Đấng Mêssia đích thực và là con vua Đavid, sẽ mạc khải và hoàn tất ý nghĩa của việc cầu nguyện đó.
Số 2580 Đền thờ Giêrusalem, ngôi nhà cầu nguyện mà vua Đavid muốn xây dựng, sẽ là công trình của con ông, là vua Salômon. Lời nguyện Cung hiến Đền thờ 26 dựa vào Lời hứa của Thiên Chúa và Giao ước của Ngài, vào sự hiện diện tác động của Danh Ngài giữa dân Ngài và vào sự tưởng niệm những kỳ công thời Xuất hành. Lúc đó nhà vua giơ tay lên trời và cầu khẩn Chúa cho chính mình, cho toàn dân, cho các thế hệ tương lai, xin Thiên Chúa tha tội cho họ và ban cho những gì cần thiết hằng ngày, để muôn dân nhận biết Ngài là Thiên Chúa duy nhất và dân Chúa hết lòng kính mến Ngài.
Êlia, các tiên tri và việc hối cải tâm hồn Số 2581 Đối với dân Thiên Chúa, Đền thờ là nơi dạy cho họ biết cầu nguyện: các cuộc hành hương, các lễ hội, hy tế, lễ dâng ban chiều, dâng hương, bánh “trưng hiến”, tất cả những dấu chỉ này về sự thánh thiện và vinh quang của Thiên Chúa Tối Cao nhưng rất gần gũi, đều là những lời mời gọi và là những nẻo đường đưa đến việc cầu nguyện. Nhưng thái độ quá chuộng nghi lễ thường lôi kéo dân đến một cách thờ phượng quá bề ngoài. Việc giáo dục đức tin và hối cải tâm hồn là cần thiết. Đó là sứ vụ của các tiên tri trước và sau thời lưu đày.
Số 2582 Êlia là tổ phụ của các tiên tri, thuộc dòng dõi những kẻ tìm kiếm Ngài, những kẻ tìm kiếm tôn nhan Ngài 27 . Tên của ông, có nghĩa “Chúa là Thiên Chúa của tôi”, tiên báo tiếng hô của dân đáp lại lời cầu nguyện của ông trên núi Carmel 28 . Thánh Giacôbê nhắc đến gương ông Êlia để khích lệ chúng ta cầu nguyện: “Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực” (Gc 5,16) 29 .
Số 2583 Sau khi học biết thương xót lúc ẩn mình tại suối Charith, ông Êlia dạy cho bà góa ở Sarepta tin vào lời Thiên Chúa và củng cố đức tin của bà bằng lời cầu nguyện tha thiết của ông: Thiên Chúa đã làm cho con trai bà goá sống lại 30 . Khi ông Êlia dâng hy lễ trên núi Carmel, đó là lúc thử thách quyết liệt đối với đức tin của dân Thiên Chúa, thì lửa của Chúa đã thiêu hủy của lễ toàn thiêu “vào giờ người ta hiến dâng của lễ ban chiều” nhờ lời khẩn cầu của ông Êlia: “Xin đáp lời con, lạy Chúa, xin đáp lời con (1 V 18,37). Các phụng vụ Đông phương đã dùng lại lời khẩn cầu này của ông Êlia trong kinh Khẩn nguyện xin ban Chúa Thánh Thần (Epiclesis) trong thánh lễ 31 . Sau cùng, trở lại hoang địa, đến nơi Thiên Chúa hằng sống và chân thật đã tỏ mình ra cho dân Ngài, ông Êlia ẩn mình, như ông Môisen, "trong một hang đá” cho tới khi sự hiện diện nhiệm mầu của Thiên Chúa “đi qua 32 . Nhưng chỉ trên núi Hiển Dung, Đấng mà ông Môisen và ông Êlia đã tìm kiếm tôn nhan, mới được tỏ lộ 33 : các ông nhận ra vinh quang của Thiên Chúa nơi tôn nhan Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh 34 .
Số 2584 Trong những lúc “riêng một mình với Thiên Chúa”, các tiên tri múc được ánh sáng và sức mạnh cho sứ vụ của mình. Việc cầu nguyện của các ông không phải là chạy trốn thế giới bất trung, nhưng là lắng nghe Lời Thiên Chúa, đôi khi tranh luận hoặc than thở với Chúa, luôn luôn chuyển cầu cho dân để chờ đợi và chuẩn bị cho sự can thiệp của Thiên Chúa Cứu Độ, là Chúa của lịch sử 35 .
Các Thánh vịnh, lời cầu nguyện của cộng đoàn Số 2585 Từ thời vua Đavid cho tới khi Đấng Messia đến, những bản văn cầu nguyện trong Sách Thánh chứng tỏ lời cầu nguyện cho mình cũng như cho tha nhân ngày càng sâu sắc hơn. Dần dần các Thánh vịnh được thu tập thành một bộ gồm năm cuốn: đó là sách Thánh vịnh (hay “Những lời ca ngợi”), là tuyệt tác về cầu nguyện trong Cựu Ước.
Số 2586 Các Thánh vịnh nuôi dưỡng và diễn tả việc cầu nguyện của dân Thiên Chúa với tư cách là cộng đoàn, vào những ngày lễ lớn tại Giêrusalem và mỗi ngày sabat trong các hội đường. Kinh nguyện này vừa có tính cá nhân vừa có tính cộng đoàn, liên quan đến những người đang cầu nguyện và tất cả mọi người; vang lên từ Thánh địa và từ các cộng đoàn Do Thái tản mác khắp nơi, nhưng bao trùm toàn thể công trình tạo dựng. Các Thánh vịnh gợi nhớ các biến cố cứu độ trong quá khứ và hướng đến ngày hoàn tất lịch sử; giúp nhớ lại những lời hứa của Thiên Chúa đã được thực hiện, và chờ đợi Đấng Messia, Đấng sẽ hoàn tất trọn vẹn các lời hứa ấy. Các Thánh vịnh, đã được Đức Kitô sử dụng để cầu nguyện và đã được hoàn tất nơi Người, vẫn luôn chiếm vị trí thiết yếu trong kinh nguyện của Hội Thánh Người 37 .
Số 2587 Tập Thánh vịnh là cuốn sách, trong đó Lời của Thiên Chúa trở thành lời cầu nguyện của con người. Trong các cuốn sách khác của Cựu Ước, thì “các lời nói... loan báo những công trình [Thiên Chúa đã thực hiện cho con người] và làm sáng tỏ mầu nhiệm chứa đựng trong đó” 38 . Còn trong tập Thánh vịnh, lời của các tác giả Thánh vịnh vừa diễn tả những công trình cứu độ của Thiên Chúa, vừa ca mừng Ngài vì những công trình đó. Cùng một Thần Khí linh hứng cả công trình của Thiên Chúa, cả lời đáp lại của con người. Đức Kitô sẽ kết hợp cả hai lại với nhau. Trong Người, các Thánh vịnh không ngừng dạy ta cầu nguyện.
Số 2588 Những cách diễn tả đa dạng của lời cầu nguyện trong Thánh vịnh được hình thành từ phụng tự Đền thờ, cũng như từ trái tim con người. Dù là thánh thi, lời kêu cầu trong cơn nguy khốn hay bài ca tạ ơn, lời khẩn cầu cá nhân hay cộng đoàn, bài ca cung đình hoặc khúc hát hành hương, bài suy niệm giáo huấn, các Thánh vịnh đều phản chiếu những kỳ công của Thiên Chúa trong lịch sử dân Ngài và những tình huống mà tác giả Thánh vịnh đã sống. Dù Thánh vịnh có thể phản ánh một biến cố trong quá khứ, nó vẫn bình dị đến nỗi con người thuộc bất cứ hoàn cảnh và thời đại nào cũng có thể sử dụng để cầu nguyện.
Số 2589 Một số nét chung thường nổi bật trong các Thánh vịnh: sự đơn sơ và bộc phát của lời cầu nguyện, lòng khao khát chính Thiên Chúa qua và với tất cả những gì là tốt lành trong công trình tạo dựng của Ngài, hoàn cảnh khó khăn của tín hữu muốn yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự nhưng phải đối diện với bao kẻ thù và cám dỗ, trong khi chờ đợi Thiên Chúa trung tín ra tay hành động, vẫn xác tín vào tình yêu của Thiên Chúa và phó thác theo thánh ý Ngài. Lời cầu nguyện của các Thánh vịnh luôn có tâm tình ca ngợi, nên tập sách này có một tên gọi rất phù hợp với điều nó mang đến cho chúng ta: “Những lời ca ngợi”. Vì được sưu tập để dùng trong phượng tự của cộng đoàn, nên cuốn Thánh vịnh vang lên lời mời gọi cầu nguyện đồng thời hát lên lời đáp: Hallelu-Yah! ("Alleluia"): “Hãy ca ngợi Chúa!” “Còn gì tốt hơn một Thánh vịnh? Vì thế vua Đavid đã nói rất đúng rằng: 'Hãy ca ngợi Chúa vì Thánh vịnh thật là tốt đẹp; hãy dâng lời ca ngợi hân hoan và êm dịu lên Thiên Chúa chúng ta. Quả vậy, Thánh vịnh là lời chúc tụng của dân, lời ca tụng Thiên Chúa, lời ca ngợi của cộng đoàn, tiếng hoan hô của mọi người, lời nói của vũ trụ, tiếng nói của Hội Thánh, lời tuyên xưng đức tin đầy giai điệu”. 39
TÓM LƯỢC Số 2590 Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa hay là cầu xin Thiên Chúa ban cho những điều xứng hợp 40 .
Số 2591 Thiên Chúa không ngừng kêu gọi mỗi người đến gặp gỡ Ngài cách huyền nhiệm trong việc cầu nguyện. Suốt dòng lịch sử cứu độ, cầu nguyện mang tính cách một lời mời gọi hỗ tương giữa Thiên Chúa và con người.
Số 2592 Việc cầu nguyện của ông Abraham và ông Giacob được trình bày như một cuộc chiến đấu của đức tin để giữ lòng tín thác vào Thiên Chúa trung tín và xác tín rằng Ngài sẽ ban chiến thắng cho kẻ kiên trì.
Số 2593 Lời cầu nguyện của ông Môisen đáp lại sáng kiến của Thiên Chúa hằng sống muốn cứu độ dân Ngài. Đây là hình ảnh báo trước lời chuyển cầu của Đấng Trung Gian duy nhất là Đức Kitô Giêsu.
Số 2594 Lời cầu nguyện của dân Thiên Chúa được triển nở dưới bóng Nhà Chúa, Hòm Bia giao ước và Đền Thờ, dưới sự hướng dẫn của các mục tử, đặc biệt là vua Đavid và của các tiên tri.
Số 2595 Các tiên tri kêu gọi dân hối cải tâm hồn và, trong khi nhiệt thành tìm kiếm tôn nhan Thiên Chúa, như tiên tri Êlia, các ngài chuyển cầu cho dân.
Số 2596 Các Thánh vịnh là tuyệt tác về cầu nguyện trong Cựu Ước, gồm hai yếu tố không thể tách rời: vừa có tính cá nhân vừa có tính cộng đoàn. Các Thánh vịnh bao trùm mọi chiều kích của lịch sử, giúp nhớ lại những lời hứa của Thiên Chúa đã được thực hiện và chờ đợi Đấng Messia ngự đến.
Số 2597 Các Thánh vịnh, đã được Đức Kitô sử dụng để cầu nguyện và đã được hoàn tất nơi Người, vẫn luôn chiếm vị trí thiết yếu trong kinh nguyện của Hội Thánh Người. Các Thánh vịnh luôn thích hợp với mọi người thuộc bất cứ hoàn cảnh và thời đại nào.
Mục 2: Khi thời gian viên mãn Số 2598 Vấn đề cầu nguyện được mạc khải cho chúng ta cách trọn vẹn trong Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta. Khi tìm hiểu việc cầu nguyện của Người qua những gì các chứng nhân kể lại trong Tin Mừng, chúng ta được đến gần Đấng thánh là Chúa Giêsu, như đến gần Bụi cây đang cháy: trước tiên chiêm ngưỡng chính Người cầu nguyện, rồi lắng nghe Người dạy chúng ta cầu nguyện, để sau cùng nhận biết Người nhận lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào.
Chúa Giêsu cầu nguyện Số 2599 Con Thiên Chúa, khi trở thành Con Đức Trinh Nữ, cũng đã học cầu nguyện theo trái tim nhân loại của Người. Chúa Giêsu đã học những công thức cầu nguyện nơi thân mẫu Người là đấng hằng ghi nhớ và luôn suy niệm trong lòng về mọi điều “cao cả” của Đấng Toàn Năng 41 . Người cầu nguyện bằng những lời kinh và âm điệu của dân Người, trong Hội đường Nazareth và trong Đền Thờ. Nhưng kinh nguyện của Người còn phát xuất từ một nguồn mạch sâu kín hơn, như chính Người đã hé mở cho thấy lúc Người lên mười hai tuổi: “Con có bổn phận ở nhà của Cha con (Lc 2,49). Ở đây, tính cách mới mẻ của việc cầu nguyện trong thời viên mãn bắt đầu được mạc khải: đó là lời cầu nguyện của Người Con, mà Chúa Cha vẫn chờ mong nơi các con cái của Ngài, cuối cùng đã được chính Người Con Một thực hiện trong nhân tính của Người cùng với con người và vì con người.
Số 2600 Tin Mừng theo thánh Luca nhấn mạnh đến tác động của Chúa Thánh Thần và ý nghĩa của việc cầu nguyện trong thừa tác vụ của Đức Kitô. Chúa Giêsu cầu nguyện trước những thời điểm quyết định trong sứ vụ của Người: trước khi Chúa Cha làm chứng về Người lúc Người chịu phép rửa 42 , lúc Người Hiển Dung 43 , và trước khi Người hoàn thành ý định yêu thương của Chúa Cha bằng cuộc thương khó của Người 44 . Người cũng cầu nguyện trước những thời điểm quyết định liên quan đến sứ vụ của các Tông Đồ của Người: trước khi gọi và chọn nhóm Mười Hai 45 , trước khi ông Phêrô tuyên xưng Người là “Đấng Kitô của Thiên Chúa” 46 , và để lòng tin của vị thủ lãnh các Tông Đồ khỏi bị suy yếu trong cơn thử thách 47 . Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước các biến cố cứu độ, mà Chúa Cha đòi Người phải thể hiện, là sự phó thác khiêm nhường và đầy tin tưởng của ý chí nhân loại của Người cho ý muốn đầy yêu thương của Chúa Cha.
Số 2601 “Có một lần Chúa Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11,1). Chẳng phải là người môn đệ của Đức Kitô, vì chiêm ngưỡng Thầy mình cầu nguyện trước, rồi khao khát cầu nguyện đó sao? Lúc đó, người này có thể học cầu nguyện từ bậc Thầy của việc cầu nguyện. Khi chiêm ngưỡng và lắng nghe Người Con, các con cái học biết cầu nguyện với Chúa Cha.
Số 2602 Chúa Giêsu thường lui vào nơi thanh vắng, lên núi, nhất là lúc đêm khuya, để cầu nguyện 48 . Vì trong cuộc Nhập Thể, Người đã thông phần nhân tính, nên Người mang lấy mọi người trong kinh nguyện của Người, và Người dâng họ lên Chúa Cha bằng việc tự hiến chính mình Người. Chính Người, Ngôi Lời “đã mặc lấy xác phàm”, trong lời cầu nguyện nhân loại của mình, thông phần vào những gì “các anh em của Người đang sống 49 ; Người cảm thông những yếu đuối của họ để giải thoát họ khỏi những yếu đuối ấy 50 . Chính vì mục đích này mà Chúa Cha đã sai Người đến. Những lời nói cũng như việc làm của Người là biểu hiện rõ ràng về những gì Người cầu nguyện “trong thầm kín”.
Số 2603 Các tác giả sách Tin Mừng giữ lại hai lời cầu nguyện minh nhiên của Đức Kitô trong thời gian Người thi hành tác vụ. Cả hai đều khởi đầu bằng lời tạ ơn. Trong lời nguyện thứ nhất 51 , Chúa Giêsu tuyên xưng, nhận biết và chúc tụng Chúa Cha vì Chúa Cha đã giấu các mầu nhiệm Nước Trời đối với những người tưởng mình khôn ngoan, nhưng lại mạc khải cho “những người bé mọn” (những người nghèo của các mối phúc). Sự rung cảm của Người, “Vâng, lạy Cha!” nói lên những gì tận đáy lòng Người, sự gắn bó của Người với “điều đẹp ý” Chúa Cha, như vọng lại lời “Xin vâng” của Mẹ Người lúc thụ thai Người, và như khúc dạo đầu cho lời Người sẽ thưa với Chúa Cha trong cơn hấp hối. Toàn bộ kinh nguyện của Chúa Giêsu đều chất chứa tâm tình gắn bó yêu thương của trái tim nhân loại của Người đối với “mầu nhiệm thánh ý” của Chúa Cha 52 .
Số 2604 Lời cầu nguyện thứ hai được thánh Gioan 53 ghi lại vào lúc trước khi Ladarô được cho sống lại. Lời tạ ơn đi trước biến cố: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhận lời con hàm ý là Chúa Cha luôn nhận lời Người cầu xin; và Chúa Giêsu thêm ngay: “Con vẫn biết Cha luôn nghe lời Con” hàm ý Chúa Giêsu luôn nài xin Chúa Cha. Như vậy, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, được khởi đầu bằng tâm tình tạ ơn, mạc khải cho chúng ta biết phải cầu xin như thế nào: trước khi nhận được hồng ân, Chúa Giêsu đã gắn bó với Đấng ban ơn, cũng là Đấng tự ban mình trong các hồng ân của Ngài. Đấng ban ơn thì quý trọng hơn hồng ân bội phần, chính Ngài là “Kho tàng” và tâm hồn của Con Ngài quy hướng về chính Ngài; hồng ân chỉ là điều được “ban thêm 54 . Lời nguyện “tư tế” của Chúa Giêsu 55 có một vị trí độc nhất vô nhị trong nhiệm cục cứu độ (lời nguyện này sẽ được suy niệm ở cuối Đoạn thứ nhất). Thật vậy, lời cầu nguyện này cho thấy kinh nguyện của Đức Kitô Thượng Tế luôn là lời cầu nguyện của ngày hôm nay, và đồng thời cũng dạy chúng ta cách cầu nguyện cùng Chúa Cha (vấn đề sẽ được bàn đến trong Đoạn thứ hai).
Số 2605 Khi đến Giờ hoàn tất ý định yêu thương của Chúa Cha, Chúa Giêsu cho thoáng thấy chiều sâu khôn dò của lời cầu nguyện của Người Con, không những trước khi Người tự nguyện trao nộp chính mình (“Lạy Cha, ... xin đừng cho ý Con thể hiện, mà là ý Cha": Le 22,42), mà cả đến những lời cuối cùng của Người trên thập giá, lúc mà cầu nguyện và tự hiến trở nên một. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34); “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng (Lc 23,43); “Thưa Bà, đây là con của Bà.... Đây là Mẹ của anh (Ga 19, 26-27); “Tôi khát" (Ga 19,28); “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Mc 15,34) 56 ; “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30); “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha" (Lc 23,46) cho đến cả “tiếng kêu lớn khi Người trao hơi thở 57 .
Số 2606 Tất cả những đau khổ của nhân loại trong mọi thời, dưới ách nô lệ tội lỗi và sự chết, tất cả mọi lời van xin và chuyển cầu suốt lịch sử cứu độ, đều được thâu tóm vào Tiếng kêu lớn của Ngôi Lời Nhập Thể. Chúa Cha đón nhận tất cả và, vượt quá mọi mong đợi, Ngài nhận lời tất cả khi cho Con Ngài sống lại. Như vậy, toàn thể kinh nguyện trong nhiệm cục tạo dựng và cứu độ được thực hiện và hoàn tất. Tập Thánh vịnh trao cho chúng ta chìa khoá của việc cầu nguyện trong Đức Kitô. Chính trong “Ngày hôm nay” của biến cố Phục sinh, Chúa Cha phán: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. Con cứ xin, rồi Cha ban tặng, muôn dân nước làm sản nghiệp riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa” (Tv 2,7-8) 58 . Thư Do thái dùng những lời lẽ bi thảm để diễn tả lời cầu nguyện của Chúa Giêsu đã đem lại chiến thắng cứu độ như thế nào: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Chúa Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người (Dt 5,7-9).
Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện Số 2607 Khi Chúa Giêsu cầu nguyện, là Người đã dạy chúng ta cầu nguyện. Con đường đối thần của lời cầu nguyện của chúng ta là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu dâng lên Cha Người. Nhưng Tin Mừng còn lưu lại cho chúng ta giáo huấn minh nhiên của Chúa Giêsu về việc cầu nguyện. Là nhà sư phạm, Người bắt đầu từ hiện trạng của chúng ta, và từng bước một dẫn dắt chúng ta đến với Chúa Cha. Khi nói với đám đông dân chúng đang đi theo Người, Chúa Giêsu khởi đi từ những gì họ đã biết về cầu nguyện theo như Giao ước cũ và mở cho họ thấy nét mới mẻ của Nước Trời đang đến. Người mạc khải cho họ nét mới mẻ này qua các dụ ngôn. Sau cùng, với các môn đệ là những người sẽ phải làm thầy dạy cầu nguyện trong Hội Thánh, thì Người nói rõ về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.
Số 2608 Ngay từ Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh đến việc hối cải tâm hồn: phải hòa giải với người anh em trước khi đến dâng lễ phẩm trên bàn thờ 59 , phải yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bách hại mình 60 , phải cầu nguyện cùng Chúa Cha, Đấng hiện diện “nơi kín đáo” (Mt 6,6), không lải nhải nhiều lời 61 , thật lòng tha thứ trong cầu nguyện 62 , có tâm hồn thanh khiết và lo tìm kiếm Nước Trời 63 . Cuộc hối cải này hoàn toàn hướng về Chúa Cha, và đượm tình con thảo.
Số 2609 Tâm hồn, một khi đã sẵn sàng hối cải như vậy, sẽ học biết cầu nguyện trong đức tin. Tin là gắn bó đầy tình con thảo với Thiên Chúa, vượt quá những gì chúng ta cảm thấy và hiểu biết. Sự gắn bó này có thể thực hiện được vì Người Con yêu dấu đã mở lối cho chúng ta đến với Chúa Cha. Người có thể yêu cầu chúng ta “tìm kiếm” và “gõ”, vì chính Người là cửa và là con đường 64 .
Số 2610 Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha và tạ ơn trước khi nhận được các hồng ân của Chúa Cha thế nào, thì Người cũng dạy chúng ta bạo dạn như những người con như vậy: “Tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi” (Mc 11,24). Sức mạnh của cầu nguyện là như thế: “mọi sự đều có thể, đối với người tin (Mc 9,23) bằng một đức tin không nghi nan 65 . Chúa Giêsu rất buồn phiền “vì sự cứng tin” của đám bà con thân thuộc của Người (Mc 6,6), và vì lòng tin yếu kém của các môn đệ Người 66 , trái lại Người thán phục trước lòng tin mạnh mẽ của viên sĩ quan Rôma 67 và người phụ nữ xứ Canaan 68 .
Số 2611 Lời cầu nguyện của đức tin không hệ tại ở chỗ thưa: “Lạy Chúa, Lạy Chúa”, nhưng là sẵn lòng thi hành thánh ý của Chúa Cha 69 . Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ Người đem vào lời cầu nguyện sự quan tâm cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa 70 .
Số 2612 Nơi Chúa Giêsu, “triều đại Thiên Chúa đã đến gần” (Mc 1,15), Người kêu gọi con người hối cải, tin tưởng và tỉnh thức nữa 71 . Khi cầu nguyện, người môn đệ chăm chú hướng về Đấng hiện có và đang đến, vừa tưởng nhớ việc Người đến lần thứ nhất trong xác phàm khiêm hạ, vừa hy vọng Người đến lần thứ hai trong vinh quang. Đối với các môn đệ, cầu nguyện là một cuộc chiến đấu trong sự hiệp thông với Thầy mình, và chính nhờ tỉnh thức trong cầu nguyện mà ta không sa chước cám dỗ 72 .
Số 2613 Có ba dụ ngôn chính về cầu nguyện được thánh Luca lưu lại cho chúng ta: Dụ ngôn thứ nhất, “Người bạn quấy rầy” 73 , mời gọi cầu nguyện cách khẩn khoản: “Anh em cứ gõ cửa thì cửa sẽ mở cho anh em”. Chúa Cha trên trời sẽ ban cho người cầu nguyện bất cứ điều gì người ấy cần và nhất là ban Chúa Thánh Thần, Đấng chứa đựng mọi hồng ân. Dụ ngôn thứ hai, “Bà góa quấy rầy” 74 , tập trung vào một trong các phẩm tính của việc cầu nguyện: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”, với sự kiên trì của lòng tin. “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?" Dụ ngôn thứ ba, “Người Pharisêu và người thu thuế 75 , liên quan đến sự khiêm tốn trong lòng của người cầu nguyện. “Lạy Thiên Chúa, xin thương con là kẻ tội lỗi”. Hội Thánh không ngừng lấy lời cầu nguyện ấy làm lời cầu nguyện của mình: Kyrie eleison! (Xin Chúa thương xót chúng con!)
Số 2614 Khi Chúa Giêsu ký thác cách công khai cho các môn đệ Người mầu nhiệm cầu nguyện với Chúa Cha, thì Người tỏ cho các ông kinh nguyện của các ông - và cũng là của chúng ta - phải thế nào, một khi Người sẽ trở về với Chúa Cha trong nhân tính đã được tôn vinh của Người. Vào lúc đó điều mới mẻ là “cầu xin nhân danh Người” 76 . Lòng tin vào Người đưa các môn đệ đến chỗ biết Chúa Cha, vì Chúa Giêsu là “Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (Ga 14,6). Lòng tin mang lại hoa trái trong lòng mến: đó là tuân giữ lời Người, các giới răn của Người, đó là cùng với Người ở lại trong Chúa Cha, Đấng yêu mến chúng ta trong Người, đến độ ở lại trong chúng ta. Trong Giao ước mới này, chúng ta xác tín rằng những lời cầu xin của chúng ta được đoái nhận, niềm xác tín đó dựa trên nền tảng là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu 77 .
Số 2615 Hơn nữa, khi lời cầu nguyện của chúng ta được kết hợp với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, Chúa Cha "sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (Ga 14,16-17). Nét mới mẻ này của lời cầu nguyện và của các điều kiện [để cầu nguyện] xuất hiện suốt diễn từ cáo biệt 78 . Trong Chúa Thánh Thần, kinh nguyện Kitô giáo là sự hiệp thông tình yêu với Chúa Cha, không phải chỉ nhờ Đức Kitô mà còn trong Người nữa: “Cho đến nay, anh em đã chẳng xin gì nhân danh Thầy. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn” (Ga 16,24).
Chúa Giêsu nhận lời cầu nguyện Số 2616 Lúc Người còn đang thi hành tác vụ, lời cầu nguyện với Chúa Giêsu đã được chính Người nhận lời, qua các dấu lạ, những dấu lạ này tiền dự vào sức mạnh của sự chết và sự sống lại của Người. Chúa Giêsu nhận lời cầu nguyện của đức tin, được diễn tả bằng lời nói (của người bệnh phong 79 , của ông Giairô 80 , của người phụ nữ Canaan 81 , của người trộm lành 82 ), hay trong thinh lặng (của những kẻ khiêng người bất toại 83 , của người đàn bà bị bệnh loạn huyết đụng chạm vào áo Người 84 , nước mắt và dầu thơm của người phụ nữ tội lỗi 85 ). Lời nài xin tha thiết của những người mù: “Lạy Con Vua Đavid, xin thương xót chúng tôi” (Mt 9,27) hay “Lạy Ông Giêsu, Con Vua David, xin rủ lòng thương tôi” (Mc 10,48) được sử dụng lại trong truyền thống Khẩn nguyện Chúa Giêsu (Oratio ad Iesum): “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Chúa Giêsu luôn đáp lại lời cầu xin Người với đức tin, bằng cách chữa lành bệnh tật hoặc thứ tha tội lỗi: “Cứ về bình an, lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. Thánh Augustinô đã khéo léo tóm tắt ba chiều kích của lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Người cầu nguyện cho chúng ta, vì Người là vị Tư Tế của chúng ta; Người cầu nguyện trong chúng ta vì Người là Đầu của chúng ta; Người được chúng ta cầu nguyện, vì Người là Thiên Chúa của chúng ta. Vậy chúng ta phải nhận biết tiếng nói của chúng ta trong Người, lẫn tiếng nói của Người trong chúng ta" 86 .
Lời cầu nguyện của Đức Trinh Nữ Maria Số 2617 Lời cầu nguyện của Đức Maria được mạc khải cho chúng ta vào buổi bình minh của lúc thời gian viên mãn. Trước cuộc Nhập Thể của Con Thiên Chúa và trước việc đổ tràn Thánh Thần xuống, lời cầu nguyện của Mẹ cộng tác cách độc đáo vào kế hoạch ưu ái của Chúa Cha: vào lúc Truyền tin để Đức Kitô được thụ thai 87 , vào lúc Hiện Xuống để Hội Thánh, Thân thể của Đức Kitô, được hình thành 88 . Hồng ân của Thiên Chúa được đón nhận nơi lòng tin của người nữ tì khiêm tốn của Ngài, sự đón nhận mà Ngài đã đợi chờ từ lúc khởi sự thời gian. Người nữ ấy, đã được Đấng Toàn Năng làm cho “đầy ân sủng , đã đáp lại bằng việc tiến dâng trọn bản thân mình: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin thực hiện cho tôi như lời của Ngài”. Lời thưa Fiat (Xin vâng) chính là lời cầu nguyện của Kitô giáo: tất cả là của Chúa bởi vì chính Chúa là tất cả của chúng ta.
Số 2618 Tin Mừng mạc khải cho chúng ta Đức Maria cầu nguyện và chuyển cầu trong lòng tin như thế nào: tại Cana, Thân mẫu Chúa Giêsu cầu xin Con mình lo đến nhu cầu của bữa tiệc cưới 89 . Bữa tiệc này là dấu chỉ của một Bữa tiệc khác, là tiệc cưới Chiên Con, Đấng ban tặng Mình Máu Người theo lời nài xin của Hội Thánh, Hiền Thê của Người. Vào giờ của Giao ước mới, gần bên thánh giá, Đức Maria đã được nhận lời, với tư cách là Người Nữ, tức là bà Evà mới, đích thực là “Mẹ của chúng sinh 90 .
Số 2619 Do đó, bài ca của Đức Maria (tiếng Latinh là Magnificat và tiếng Byzantin là Megalinárion) là bài ca vừa của Mẹ Thiên Chúa vừa của Hội Thánh, bài ca vừa của Thiếu nữ Sion, vừa của dân mới của Thiên Chúa, bài ca tạ ơn vì sự viên mãn của các ân sủng được ban tràn đầy trong Nhiệm cục cứu độ, bài ca của “những người nghèo” thấy niềm hy vọng của mình được thực hiện nhờ việc hoàn thành các lời hứa dành cho cha ông chúng ta, “cho tổ phụ Abraham và cho con cháu đến muôn đời” 91 .
Số 2620 Trong Tân Ước, khuôn mẫu tuyệt hảo của cầu nguyện là lời cầu nguyện đầy tình con thảo của Chúa Giêsu. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu – thường được thực hiện trong nơi vắng vẻ và kín đáo – bao hàm sự gắn bó đầy tình yêu với thánh ý Chúa Cha cho đến tận thập giá, và sự tin tưởng tuyệt đối là được nhận lời.
Số 2621 Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện với tâm hồn trong sạch, với đức tin sống động, luôn kiên nhẫn và sự bạo dạn của người con. Người đòi buộc họ phải tỉnh thức và mời gọi họ dâng lên Thiên Chúa những lời cầu xin nhân danh Người. Chính Chúa Giêsu Kitô nhận những lời cầu nguyện dâng lên Người.
Số 2622 Kinh nguyện của Đức Maria, trong lời “Xin vâng” và trong bài ca "Magnificat" của Mẹ, có nét đặc thù là sự quảng đại hiến dâng trọn bản thân Mẹ trong đức tin.
Mục 3: Trong thời của Hội Thánh Số 2623 Ngày lễ Ngũ Tuần, Thần Khí của Lời hứa được đổ tràn xuống các môn đệ “đang tề tựu ở một nơi” (Cv 2,1), “tất cả... đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện” để chờ đón Ngài (Cv 1,14). Thần Khí, Đấng dạy dỗ Hội Thánh và nhắc cho Hội Thánh nhớ mọi điều Chúa Giêsu đã nói, cũng sẽ huấn luyện Hội Thánh về đời sống cầu nguyện.
Số 2624 Trong cộng đoàn tiên khởi tại Giêrusalem, các tín hữu “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42). Chuỗi thứ tự ấy là nét đặc thù của việc cầu nguyện của Hội Thánh: việc cầu nguyện đặt nền tảng trên đức tin tông truyền, được chứng thực bằng tình bác ái, được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể.
Số 2625 Những lời cầu nguyện này trước hết là những lời các tín hữu nghe và đọc trong Sách Thánh, nhưng họ làm cho những lời ấy trở thành hiện tại, đặc biệt là những lời Thánh vịnh, do chúng được nên trọn trong Đức Kitô. Chúa Thánh Thần, Đấng nhắc cho Hội Thánh đang cầu nguyện nhớ đến Đức Kitô như vậy, cũng dẫn đưa Hội Thánh đến chân lý trọn vẹn và khơi dậy những mẫu kinh mới để diễn tả mầu nhiệm khôn dò của Đức Kitô, mầu nhiệm ấy đang hoạt động trong đời sống, trong các bí tích và trong sứ vụ của Hội Thánh Người. Những mẫu kinh này sẽ được khai triển trong các truyền thống phụng vụ và linh đạo quan trọng. Các hình thức cầu nguyện, như được mạc khải trong các tác phẩm của các Tông Đồ thuộc Tân Ước, sẽ mãi mãi là mẫu mực cho kinh nguyện Kitô giáo.
I. Chúc tụng và Thờ lạy Số 2626 Chúc tụng diễn tả động thái sâu xa nhất của việc cầu nguyện Kitô giáo. Đó là sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người; trong đó Thiên Chúa ban ơn và con người tiếp nhận, hai bên mời gọi nhau và nối kết với nhau. Lời kinh chúc tụng là lời đáp của con người đối với những hồng ân của Thiên Chúa: vì Thiên Chúa chúc lành, tâm hồn con người có thể chúc tụng để đáp lại Đấng là nguồn mạch mọi phúc lành.
Số 2627 Có hai dạng căn bản diễn tả động thái này: có khi là dạng đi lên, tức là lời chúc tụng được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần nhờ Đức Kitô dâng lên Chúa Cha (chúng ta chúc tụng Ngài vì Ngài đã chúc lành cho chúng ta 94 ); có khi là dạng đi xuống, tức là khẩn cầu ân sủng của Chúa Thánh Thần, Đấng nhờ Đức Kitô, từ Chúa Cha mà xuống, (chính Ngài chúc lành cho chúng ta) 95 .
Số 2628 Thờ lạy là thái độ đầu tiên của con người nhìn nhận mình là thụ tạo trước Đấng Tạo Hoá của mình. Thờ lạy là tán dương sự cao cả của Chúa, Đấng đã dựng nên chúng ta 96 và sự toàn năng của Đấng cứu độ, Đấng giải thoát chúng ta khỏi sự dữ. Thờ lạy là phủ phục tinh thần trước “Đức Vua vinh quang" 97 , và là lặng thinh kính cẩn trước Thiên Chúa, Đấng “luôn luôn cao cả hơn” 98 . Việc thờ lạy Thiên Chúa muôn trùng chí thánh và đáng mến vô cùng làm cho lòng ta khiêm tốn và đem lại sự bảo đảm cho những lời cầu khẩn của chúng ta.
II. Lời kinh cầu xin Số 2629 Từ vựng diễn tả việc khẩn cầu trong Tân Ước có sắc thái phong phú đa dạng: xin, nài xin, nài nỉ, kêu cầu, kêu xin, kêu cứu và thậm chí “chiến đấu trong cầu nguyện” 99 . Nhưng hình thức thông thường nhất, vì là tự phát nhất, là cầu xin. Qua lời kinh cầu xin, chúng ta bộc lộ ý thức về mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa: là những thụ tạo, chúng ta không phải tự mình mà có, không làm chủ được những nghịch cảnh, cũng chẳng phải là cùng đích của đời mình. Hơn nữa, vì là Kitô hữu, chúng ta biết mình là những tội nhân đã quay lưng lại với Cha chúng ta. Cầu xin, một cách nào đó, đã là trở về với Ngài.
Số 2630 Tân Ước hầu như không có những lời cầu nguyện than van thường thấy trong Cựu Ước. Từ nay trở đi, trong Đức Kitô phục sinh, lời cầu nguyện của Hội Thánh mang niềm hy vọng, cho dù hiện nay chúng ta vẫn đang trông chờ và mỗi ngày vẫn còn cần hối cải. Lời kinh cầu xin của Kitô giáo còn xuất phát từ một chiều sâu khác, từ chiều sâu được thánh Phaolô gọi là lời rên siết: tức là lời rên siết của thụ tạo “quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,22); cũng là tiếng rên siết của chúng ta “còn trông đợi Thiên Chúa... cứu chuộc thân xác chúng ta nữa. Quả thế, chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong (Rm 8,23-24); sau cùng là những “tiếng rên siết khôn tả của chính Chúa Thánh Thần, Đấng “giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải (Rm 8,26).
Số 2631 Cầu xin ơn tha thứ là động thái đầu tiên của lời kinh cầu xin, (như lời người thu thuế: “Xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, Lc 18,13). Đó là bước đi đầu tiên để có thể cầu nguyện đúng đắn và tinh tuyền. Lòng khiêm tốn đầy tin tưởng phó thác đặt chúng ta vào trong ánh sáng của sự hiệp thông với Chúa Cha và Con Ngài là Chúa Giêsu Kitô, và hiệp thông với nhau 100 : khi đó “bất cứ điều gì chúng ta xin, chúng ta được Ngài ban cho" (1 Ga 3,22). Chúng ta phải cầu xin ơn tha thứ trước khi cử hành Thánh lễ, cũng như trước khi cầu nguyện riêng.
Số 2632 Theo giáo huấn của Chúa Giêsu 101 , trọng tâm lời kinh cầu xin của Kitô giáo là sự khao khát và tìm kiếm Nước Chúa đang đến. Vì thế cần phải có một trật tự trong lời cầu xin: trước tiên là Nước Chúa, rồi đến những gì cần thiết cho chúng ta để đón nhận và cộng tác cho Nước Chúa trị đến. Việc cộng tác như vậy vào sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần, nay là sứ vụ của Hội Thánh, là đối tượng cầu xin của cộng đoàn thời các Tông Đồ 102 . Kinh nguyện của thánh Phaolô, vị Tông Đồ ngoại hạng, mạc khải cho ta thấy sự quan tâm thánh thiện đến tất cả các giáo đoàn, phải gợi hứng cho kinh nguyện Kitô giáo như thế nào 103 . Bằng cầu nguyện, mọi người đã chịu Phép Rửa đều hoạt động cho Nước Chúa trị đến.
Số 2633 Khi tham dự vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa như thế, chúng ta cần hiểu rằng mọi nhu cầu đều có thể trở thành đối tượng của lời kinh cầu xin. Đức Kitô, Đấng đã đón nhận tất cả để cứu chuộc tất cả, được tôn vinh nhờ những lời cầu xin mà chúng ta nhân danh Người dâng lên Chúa Cha 104 . Được bảo đảm nhờ điều đó nên thánh Giacôbê 105 và thánh Phaolô khuyến khích chúng ta cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh 106 .
III. Lời kinh chuyển cầu Số 2634 Chuyển cầu là lời kinh cầu xin làm cho chúng ta đến gần với kinh nguyện của Chúa Giêsu. Người là Đấng chuyển cầu duy nhất nơi Chúa Cha cho tất cả mọi người, đặc biệt là cho kẻ tội lỗi 107 . “Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Người hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Dt 7,25). Chính Chúa Thánh Thần “cầu thay nguyện giúp..., bởi vì Ngài cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,26-27).
Số 2635 Chuyển cầu, nghĩa là cầu xin cho những người khác, ngay từ tổ phụ Abraham, là đặc điểm của một tâm hồn hòa nhịp với lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa. Trong thời của Hội Thánh, lời chuyển cầu của Kitô hữu tham dự vào lời chuyển cầu của Đức Kitô: đây là cách diễn tả mầu nhiệm các Thánh thông công. Trong lời chuyển cầu, người cầu nguyện “đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2,4), thậm chí họ cầu nguyện cả cho những người làm hại họ 108 .
Số 2636 Các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã nhiệt thành sống hình thức chia sẻ này 109 . Thánh Tông Đồ Phaolô đã cho các cộng đoàn đó tham gia vào thừa tác vụ Tin Mừng của ngài bằng cách này 110 nhưng ngài cũng chuyển cầu cho họ nữa 111 . Lời chuyển cầu của các Kitô hữu không có ranh giới: “cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền” (1 Tm 2,1), cho những người bách hại 112 , cho ơn cứu độ của những người từ khước Tin Mừng 113 .
IV. Lời kinh tạ ơn Số 2637 Tạ ơn là nét đặc trưng của kinh nguyện của Hội Thánh; Hội Thánh, khi cử hành Thánh Lễ, biểu lộ và trở thành phù hợp hơn với bản chất của mình. Thật vậy, trong công trình cứu độ, Đức Kitô giải thoát thụ tạo khỏi tội lỗi và sự chết, để thánh hiến chúng một lần nữa và quy hướng chúng về Chúa Cha để tôn vinh Ngài. Lời kinh tạ ơn của các chi thể trong Thân Thể được tham dự vào lời tạ ơn của Đức Kitô là Đầu.
Số 2638 Cũng như trong lời kinh cầu xin, mọi biến cố và nhu cầu đều có thể trở thành lễ phẩm tạ ơn. Các thư của thánh Phaolô thường khởi đầu và kết thúc bằng một lời tạ ơn, và Chúa Giêsu luôn hiện diện trong việc tạ ơn đó. “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu (1 Tx 5,18). "Anh em hãy siêng năng cầu nguyện; hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn (Cl 4,2).
V. Lời kinh ca ngợi Số 2639 Ca ngợi là hình thức cầu nguyện nhìn nhận Thiên Chúa là Thiên Chúa một cách trực tiếp nhất. Lời kinh ca ngợi tán dương Thiên Chúa vì chính Ngài, tôn vinh Ngài không phải vì các công trình của Ngài, nhưng bởi vì NGÀI HIỆN HỮU. Khi ca ngợi Thiên Chúa, chúng ta được thông phần hạnh phúc của những tâm hồn trong sạch, những kẻ yêu mến Ngài trong đức tin trước khi được nhìn thấy Ngài trong vinh quang. Nhờ lời kinh ca ngợi, Thần Khí kết hợp với thần trí chúng ta để chứng nhận chúng ta là con cái Thiên Chúa 114 . Ngài làm chứng cho Người Con Một, trong Người, chúng ta được nhận làm nghĩa tử và nhờ Người, chúng ta tôn vinh Chúa Cha. Lời kinh ca ngợi gồm tóm các hình thức cầu nguyện khác và dâng tất cả lên Đấng là nguồn mạch và cùng đích của chúng: đó là “chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta (1 Cr 8,6).
Số 2640 Thánh Luca, trong sách Tin Mừng của mình, thường nhắc đến thái độ thán phục và ca ngợi trước những phép lạ của Đức Kitô. Trong sách Công vụ Tông Đồ, ngài cũng nhấn mạnh các thái độ này trước những hoạt động của Chúa Thánh Thần: lời ca ngợi của cộng đoàn Giêrusalem 115 , của người bất toại được các ông Phêrô và Gioan chữa lành 116 , của dân chúng tôn vinh Thiên Chúa vì việc chữa lành đó 117 , của dân ngoại ở Pixiđia “vui mừng tôn vinh Lời Chúa” (Cv 13,48).
Số 2641 “Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5,19) 118 . Như các tác giả được linh hứng của Tân Ước, các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đọc lại sách Thánh vịnh một cách mới mẻ: họ dùng các Thánh vịnh để hát mừng mầu nhiệm Đức Kitô. Dưới tác động mới mẻ của Thần Khí, họ cũng sáng tác những thánh thi và thánh ca, khởi đi từ biến cố độc đáo Thiên Chúa đã thực hiện nơi Con của Ngài: cuộc Nhập thể, cái Chết toàn thắng sự chết, sự Phục sinh và việc Lên trời ngự bên hữu Ngài 119 . Chính từ “những kỳ công này” của toàn thể nhiệm cục cứu độ mà các tín hữu dâng lên lời vinh tụng ca (doxologia), ca ngợi Thiên Chúa 120 .
Số 2642 Sách Khải Huyền, lời mạc khải “về những điều sắp phải xảy đến”, có những bài thánh ca của phụng vụ thiên quốc 121 , nhưng cũng có lời chuyển cầu của “các chứng nhân” (các vị tử đạo) 122 . Các Tiên tri và các Thánh, tất cả những người đã bị sát hại dưới trần gian để làm chứng cho Chúa Giêsu 123 , đoàn người đông đảo “đã trải qua cơn thử thách lớn lao , và đi trước chúng ta vào Nước Trời, đang hát lên lời ca ngợi vinh quang của “Đấng đang ngự trên ngai và Con Chiên 124 . Hiệp thông với các ngài, Hội Thánh trần gian cũng hát lên những bài thánh ca, trong đức tin và giữa cơn thử thách. Khi cầu xin và chuyển cầu, đức tin hy vọng, dù không còn gì để hy vọng, và tạ ơn “Chúa Cha là nguồn ánh sáng , Đấng ban xuống “mọi hồng ân tốt lành” 125 . Như thế, đức tin là một lời ca ngợi tinh tuyền.
Số 2643 Thánh lễ chứa đựng và diễn tả mọi hình thức cầu nguyện: đó chính là “lễ phẩm tinh tuyền” của toàn Thân thể Chúa Kitô để tôn vinh Danh Người 126 . Truyền thống Đông và Tây phương đều gọi Thánh lễ là “hy lễ ca ngợi” ("sacrificium laudis").
TÓM LƯỢC Số 2644 Chúa Thánh Thần, Đấng dạy dỗ và nhắc cho Hội Thánh nhớ những gì Chúa Giêsu đã nói, cũng dạy Hội Thánh về đời sống cầu nguyện, bằng cách gợi lên những lối diễn tả mới trong những hình thức vẫn có: chúc tụng, cầu xin, chuyển cầu, tạ ơn và ca ngợi.
Số 2645 Vì Thiên Chúa chúc lành cho con người, nên tâm hồn con người có thể chúc tụng để đền đáp Đấng là nguồn mạch mọi phúc lành.
Số 2646 Lời cầu xin nhằm vào các việc xin ơn tha thứ, tìm kiếm Nước Chúa, cũng như cầu xin những ơn cần thiết.
Số 2647 Chuyển cầu là một lời cầu xin cho những người khác. Lời chuyển cầu không có biên giới và bao trùm cả kẻ thù.
Số 2648 Mọi vui buồn, mọi biến cố và nhu cầu đều có thể là chất liệu để tạ ơn; lời tạ ơn của chúng ta được tham dự vào lời tạ ơn của Đức Kitô và lấp đầy cuộc sống của chúng ta: “Hãy tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (1 Tx 5,18).
Số 2649 Lời kinh ca ngợi, hoàn toàn vô vị lợi, hướng về Thiên Chúa; lời kinh này hát mừng Thiên Chúa vì chính Ngài, tôn vinh Ngài không phải vì các công trình Ngài thực hiện, nhưng bởi vì NGÀI HIỆN HỮU.
CHƯƠNG HAI: TRUYỀN THỐNG CẦU NGUYỆN Số 2650 Việc cầu nguyện không chỉ là sự bộc phát do một thúc đẩy nội tâm: để cầu nguyện, phải muốn cầu nguyện. Nếu chỉ biết Thánh Kinh mạc khải những gì về cầu nguyện thì chưa đủ: còn phải học cầu nguyện nữa. Thật vậy, Chúa Thánh Thần, nhờ sự lưu truyền sống động (Thánh Truyền) dạy con cái Thiên Chúa biết cầu nguyện trong Hội Thánh đang tin và đang cầu nguyện 1 .
Số 2651 Truyền thống cầu nguyện Kitô giáo là một trong các hình thái triển nở của Truyền thống đức tin, đặc biệt nhờ việc chiêm niệm và học hỏi của các tín hữu, những người luôn ghi nhớ trong lòng những biến cố và lời dạy về Nhiệm cục cứu độ, và nhờ sự thấu triệt sâu xa những thực tại thiêng liêng mà họ cảm nghiệm 2 .
Mục 1: Những nguồn mạch của kinh nguyện Số 2652 Chúa Thánh Thần là “nước trường sinh”, “tuôn ban sự sống muôn đời” vào tâm hồn người cầu nguyện. Chính Ngài dạy chúng ta biết đón nhận nước đó tận nguồn mạch: nơi Đức Kitô 3 . Trong đời sống Kitô hữu, có những mạch dẫn đến nguồn, nơi Đức Kitô đang mong đợi chúng ta để cho chúng ta uống thoả thuê Chúa Thánh Thần:
Lời Chúa Số 2653 Hội Thánh “nhiệt liệt và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu ... học được sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giêsu Kitô (P1 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh.... Nhưng họ nên nhớ rằng kinh nguyện phải có kèm theo việc đọc Thánh Kinh, để trở thành cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh 4 .
Số 2654 Các linh phụ đã dùng câu Tin Mừng Mt 7,7 để tóm lược tiến trình tâm hồn được Lời Chúa nuôi dưỡng khi cầu nguyện, như sau: “Anh em cứ tìm nhờ đọc, thì sẽ thấy nhờ suy niệm; cứ gõ cửa nhờ cầu nguyện, thì sẽ mở ra cho anh em nhờ chiêm niệm” 5 .
Phụng vụ của Hội Thánh Số 2655 Sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần, trong phụng vụ bí tích của Hội Thánh, là công bố, hiện tại hóa và truyền thông mầu nhiệm cứu độ, sứ vụ ấy được tiếp nối trong tâm hồn người đang cầu nguyện. Các linh phụ đôi khi so sánh tâm hồn với bàn thờ. Việc cầu nguyện làm cho phụng vụ được nội tâm hóa và trở thành riêng của bản thân, cả trong lúc cử hành lẫn sau khi cử hành. Việc cầu nguyện, dù ở “nơi kín đáo” (Mt 6,6), vẫn luôn là lời cầu nguyện của Hội Thánh và là sự hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh 6 .
Các nhân đức đối thần Số 2656 Chúng ta phải qua cửa hẹp của đức tin để đi vào cầu nguyện cũng như đi vào phụng vụ. Qua các dấu chỉ sự hiện diện của Chúa, chúng ta tìm kiếm và khao khát tôn nhan Ngài, chúng ta muốn lắng nghe và tuân giữ lời Ngài.
Số 2657 Chúa Thánh Thần, Đấng dạy chúng ta cử hành phụng vụ đang khi mong đợi ngày trở lại của Đức Kitô, giáo dục chúng ta biết cầu nguyện trong đức cậy. Ngược lại, việc cầu nguyện của Hội Thánh và của cá nhân nuôi dưỡng đức cậy trong lòng chúng ta. Đặc biệt các Thánh vịnh, với ngôn từ cụ thể và đa dạng của chúng, dạy chúng ta đặt lòng trông cậy nơi Thiên Chúa: “Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Ngài nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu” (Tv 40,2). "Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng (Rm 15,13).
Số 2658 “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta (Rm 5,5). Một khi được đào tạo nhờ đời sống phụng vụ, việc cầu nguyện sẽ kín múc được mọi sự trong tình yêu mà Thiên Chúa đã yêu mến chúng ta trong Đức Kitô. Tình yêu này giúp chúng ta đáp lại Ngài bằng cách yêu thương như chính Ngài đã yêu thương chúng ta. Tình yêu là nguồn mạch duy nhất của cầu nguyện; ai kín múc nơi nguồn mạch này, người đó đạt tới chóp đỉnh của việc cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa của con, con yêu mến Chúa, và niềm ao ước duy nhất của con là yêu mến Chúa cho đến hơi thở cuối cùng của đời con. Lạy Thiên Chúa vô cùng khả ái, con yêu mến Chúa. Con thà chết vì yêu mến Chúa, còn hơn là sống mà không yêu mến Chúa. Lạy Chúa, con yêu mến Chúa, và ân sủng duy nhất mà con cầu xin là cho con được yêu mến Chúa muôn đời.... Lạy Thiên Chúa của con, nếu miệng lưỡi con không thể lúc nào cũng lặp lại rằng con yêu mến Chúa, con muốn rằng tim con luôn lặp lại lời đó với Chúa theo từng nhịp thở của con 7 .
“Ngày hôm nay" Số 2659 Có những lúc chúng ta học cầu nguyện bằng cách lắng nghe Lời Chúa và tham dự mầu nhiệm Vượt Qua của Người; nhưng mọi lúc, trong các biến cố hằng ngày, Người ban Thần Khí của Người để giúp ta cầu nguyện. Giáo huấn của Chúa Giêsu về việc cầu nguyện với Chúa Cha cũng giống như giáo huấn về Chúa quan phòng: thời gian ở trong tay Chúa Cha; chúng ta gặp gỡ Ngài trong hiện tại, không phải hôm qua hay ngày mai, nhưng chính hôm nay: “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa: các ngươi chớ cứng lòng!” (Tv 95,8).
Số 2660 Cầu nguyện trong các biến cố mỗi ngày và mỗi lúc, là một trong những điều bí ẩn của Nước Trời, được mạc khải cho “những người bé mọn”, những tôi tớ Đức Kitô, những người nghèo theo các mối phúc. Thật là chính đáng và tốt lành khi cầu nguyện để công lý và hoà bình của “Nước Chúa trị đến có ảnh hưởng trên tiến trình lịch sử; nhưng cũng quan trọng là phải dùng cầu nguyện mà nhào nặn khối bột là những hoàn cảnh tầm thường hằng ngày. Mọi hình thức cầu nguyện đều có thể là thứ men mà Chúa đã sánh ví với Nước Chúa 9 .
TÓM LƯỢC Số 2661 Nhờ việc lưu truyền sống động là Thánh Truyền, Chúa Thánh Thần dạy con cái Thiên Chúa, trong Hội Thánh, biết cầu nguyện.
Số 2662 Lời Chúa, Phụng vụ của Hội Thánh, các nhân đức Tin Cậy Mến, là những nguồn mạch của việc cầu nguyện.
Mục 2: Con đường cầu nguyện Số 2663 Trong truyền thống sống động của việc cầu nguyện, mỗi Giáo Hội đề ra cho các tín hữu của mình, theo bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa, một ngôn ngữ cầu nguyện của họ: những lời lẽ, giai điệu, cử chỉ và hình ảnh. Huấn quyền 10 có trách nhiệm phân định xem những con đường cầu nguyện ấy có trung thành với truyền thống đức tin tông truyền không; các mục tử và giáo lý viên có trách nhiệm giải thích ý nghĩa, luôn quy chiếu vào Chúa Giêsu Kitô, của những con đường cầu nguyện này.
Kinh nguyện dâng lên Chúa Cha Số 2664 Kinh nguyện Kitô giáo không có con đường nào khác ngoài Đức Kitô. Việc cầu nguyện của chúng ta, dù của cộng đoàn hoặc của cá nhân, dù là khẩu nguyện hay tâm nguyện, không thể dâng lên tới Chúa Cha nếu chúng ta không cầu nguyện “nhân danh Chúa Giêsu . Quả vậy, nhân tính thánh thiện của Chúa Giêsu là con đường, qua đó Chúa Thánh Thần dạy chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha chúng ta.
Kinh nguyện dâng lên Chúa Giêsu Số 2665 Kinh nguyện của Hội Thánh, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và việc cử hành phụng vụ, dạy chúng ta cầu nguyện với Chúa Giêsu. Mặc dù kinh nguyện đó chủ yếu dâng lên Chúa Cha, nhưng trong tất cả các truyền thống phụng vụ, vẫn hàm chứa những hình thức cầu nguyện dâng lên Đức Kitô. Một số Thánh vịnh, như hiện được thích ứng trong kinh nguyện của Hội Thánh, và Tân Ước, đặt vào môi miệng và khắc ghi trong tâm hồn chúng ta những lời khẩn nguyện dâng lên Đức Kitô: Lạy Con Thiên Chúa, Ngôi Lời của Thiên Chúa, Chúa, Đấng Cứu độ, Chiên Thiên Chúa, Đức Vua, Con chí ái của Thiên Chúa, Con Đức Trinh Nữ, Vị Mục tử nhân lành, Sự Sống của chúng con, Ánh sáng của chúng con, Hy vọng của chúng con, Sự Phục sinh của chúng con, Bạn của loài người.
Số 2666 Nhưng Danh thánh hàm chứa tất cả các tước hiệu trên là Danh thánh mà Con Thiên Chúa đã tiếp nhận trong cuộc Nhập Thể: đó là Danh thánh GIÊSU. Danh Thiên Chúa là siêu phàm, môi miệng loài của chúng ta không được đọc lên 11 , nhưng Ngôi Lời Thiên Chúa, khi nhận lấy bản tính nhân loại của chúng ta, đã trao Danh ấy cho chúng ta, và chúng ta có thể kêu cầu Danh ấy: "Giêsu", nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ 12 . Danh thánh Giêsu bao hàm mọi sự: Thiên Chúa và con người cùng với toàn thể Nhiệm cục tạo dựng và cứu độ. Cầu nguyện danh “Giêsu”, là khẩn cầu Người, là kêu gọi Người. Danh của Người là Danh duy nhất hàm chứa sự hiện diện mà Danh ấy biểu thị. Chúa Giêsu là Đấng phục sinh, và bất cứ ai kêu cầu Danh Người thì đón nhận Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương họ và tự nộp mình vì họ 13 .
Số 2667 Lời khẩn nguyện này của đức tin, tuy đơn sơ, đã được khai triển dưới nhiều hình thức trong truyền thống kinh nguyện Đông và Tây phương. Công thức thông dụng nhất, được các đan sĩ ở núi Sinai, Syria và núi Athos truyền lại, là lời khẩn nguyện: “Lạy Đức Giêsu Kitô, là Con Thiên Chúa, và là Chúa chúng con, xin thương xót chúng con là những kẻ tội lỗi”. Công thức này phối hợp thánh thi ca ngợi Đức Kitô trong Thư gửi giáo đoàn Philipphê (2,6-11) với lời van xin của người thu thuế và những người xin được sáng mắt 14 . Nhờ lời khẩn nguyện này, tâm hồn được hòa nhịp với sự khốn cùng của con người và lòng thương xót của Đấng Cứu Độ họ.
Số 2668 Lời khẩn nguyện Danh thánh Chúa Giêsu là con đường đơn giản nhất của việc cầu nguyện liên lỉ. Được thường xuyên lặp đi lặp lại bởi một tâm hồn chăm chú cách khiêm tốn, lời khẩn nguyện này không bị phân tán thành những lời “lải nhải” (Mt 6,7), nhưng “nắm giữ Lời Chúa và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả 15 . Lời khẩn nguyện này có thể thực hiện “luôn luôn”, vì đây không phải là một công việc bên cạnh một công việc khác, nhưng chỉ là công việc duy nhất, đó là việc yêu mến Thiên Chúa, công việc này làm sinh động và biến đổi mọi hoạt động trong Đức Kitô Giêsu.
Số 2669 Cũng như việc khẩn nguyện Danh cực thánh của Chúa Giêsu, kinh nguyện của Hội Thánh còn tôn sùng Thánh Tâm Người. Việc tôn sùng này tôn thờ Ngôi Lời Nhập Thể và Thánh Tâm của Người, Thánh Tâm vì yêu thương loài người, đã để cho bị đâm thâu vì tội lỗi chúng ta. Kinh nguyện Kitô giáo cũng mộ mến đi Đàng Thánh Giá, theo chân Đấng cứu độ. Các chặng từ dinh Tổng trấn đến đồi Gôlgôtha và Mộ Thánh làm thành con đường của Chúa Giêsu, Đấng đã cứu chuộc trần gian bằng thánh giá của Người.
“Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến” Số 2670 “Không ai có thể nói rằng: Đức Giêsu là Chúa, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3). Mỗi khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện với Chúa Giêsu, thì chính Chúa Thánh Thần dùng ân sủng dự phòng của Ngài, đưa chúng ta vào con đường cầu nguyện. Ngài dạy chúng ta cầu nguyện khi nhắc chúng ta nhớ đến Đức Kitô, thì lẽ nào chúng ta lại không cầu nguyện với chính Ngài? Vì vậy, Hội Thánh mời gọi chúng ta cầu khẩn Chúa Thánh Thần mỗi ngày, nhất là khi khởi sự và kết thúc mọi hoạt động quan trọng. “Nếu như Chúa Thánh Thần không đáng được tôn thờ, thì làm sao Ngài thần hóa tôi bằng bí tích Rửa Tội được? Còn nếu Ngài đáng được tôn thờ, thì lẽ nào Ngài lại không được tôn thờ cách đặc biệt? 16
Số 2671 Công thức truyền thống để xin Chúa Thánh Thần là kêu cầu Chúa Cha, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng ta, để Chúa Cha ban cho chúng ta Thần Khí An ủi 17 . Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lời cầu xin này nhân danh Người, khi Người hứa ban hồng ân là Thần Khí sự thật 18 . Nhưng lời cầu nguyện đơn giản và trực tiếp nhất theo truyền thống là: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến”. Mọi truyền thống phụng vụ đã khai triển lời nguyện ấy trong các điệp ca và thánh thi: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến, xin tràn ngập tâm hồn các tín hữu của Chúa, và xin nhóm lửa tình yêu Chúa trong họ 19 “Lạy Đức Vua thiên quốc, Đấng An ủi, Thần Khí sự thật, Đấng hiện diện khắp nơi và tràn ngập vạn sự, là kho tàng mọi điều thiện hảo và là nguồn mạch sự sống, xin ngự đến, xin cư ngụ trong chúng con, xin thanh tẩy chúng con sạch mọi vết nhơ và xin cứu độ linh hồn chúng con, lạy Chúa là Đấng nhân lành 20 .
Số 2672 Chúa Thánh Thần, mà dầu của Ngài thấm nhập toàn thể con người chúng ta, là Vị Thầy nội tâm của việc cầu nguyện Kitô giáo. Chính Ngài là Đấng kiến tạo truyền thống sống động của việc cầu nguyện. Quả thật, có bao nhiêu người cầu nguyện thì có bấy nhiêu đường lối cầu nguyện, nhưng cùng một Thần Khí hoạt động trong mọi người và cùng với mọi người. Trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần, kinh nguyện Kitô giáo là kinh nguyện trong Hội Thánh.
Hiệp thông với Thánh Mẫu của Thiên Chúa Số 2673 Trong việc cầu nguyện, Chúa Thánh Thần liên kết chúng ta với Ngôi Vị của Người Con Một trong nhân tính đã được tôn vinh của Người. Nhờ và trong nhân tính ấy, lời cầu nguyện con thảo của chúng ta hiệp thông với Thân Mẫu Chúa Giêsu trong Hội Thánh 21 .
Số 2674 Từ khi Đức Maria ưng thuận trong đức tin lúc Truyền Tin và không ngần ngại giữ vững sự ưng thuận đó dưới chân thập giá, tình mẫu tử của Mẹ từ đó lan rộng tới những người anh em và chị em của Con Mẹ “còn trên đường lữ hành và đang gặp nhiều hiểm nguy gian khó" 22 . Chúa Giêsu, Đấng trung gian duy nhất, là con đường cầu nguyện của chúng ta. Đức Maria, Mẹ Người và cũng là Mẹ chúng ta, trở thành hình ảnh hoàn toàn trong suốt của Người. Theo cách trình bày bích hoạ của truyền thống Giáo Hội Đông và Tây phương: Mẹ “chỉ đường”, Mẹ là “Dấu chỉ” của Con đường là Chúa Giêsu.
Số 2675 Chính từ sự cộng tác đặc biệt này của Đức Maria với hoạt động của Chúa Thánh Thần, mà các Giáo Hội đã triển khai kinh nguyện dâng lên Thánh Mẫu của Thiên Chúa, quy hướng kinh nguyện ấy về trung tâm là Ngôi Vị Đức Kitô, được biểu lộ trong các mầu nhiệm của Người. Trong vô số thánh thi và điệp ca diễn tả kinh nguyện này, có hai động thái thường thay đổi nhau: một là “ngợi khen” Chúa vì “những điều cao cả” Ngài đã làm cho Mẹ, người nữ tỳ khiêm hạ của Ngài, và qua Mẹ, cho tất cả mọi người 23 , hai là dâng lên Mẹ Chúa Giêsu những lời cầu khẩn và ca ngợi của con cái Thiên Chúa, vì giờ đây Mẹ biết rõ nhân loại, mà trong Mẹ, nhân loại ấy đã được Con Thiên Chúa kết hợp như hiền thê của Người.
Số 2676 Hai động thái nói trên của kinh nguyện dâng lên Đức Maria được diễn tả cách độc đáo trong kinh Kính Mừng: “Kính mừng Maria" (Ave, Maria; Laetare, Maria): lời chào của thiên sứ Gabriel mở đầu kinh Kính mừng. Chính Thiên Chúa, qua vị thiên sứ của Ngài, chào Đức Maria. Lời kinh của chúng ta dám lặp lại lời chào Đức Maria với tâm tình của Thiên Chúa khi Ngài đoái thương nhìn đến người nữ tỳ hèn mọn của Ngài 24 và hân hoan vì niềm vui mà Thiên Chúa gặp được nơi Đức Maria 25 . “Bà đầy ân phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà”: hai phần lời chào của vị thiên sứ soi sáng cho nhau. Đức Maria đầy ân sủng vì Chúa ở cùng Mẹ. Ân sủng, mà Mẹ được ban tràn đầy, chính là sự hiện diện của Đấng là nguồn mạch mọi ân sủng. “Reo vui lên... hỡi thiếu nữ Giêrusalem... Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi” (Sp 3,14.17a). Đức Maria, vì được chính Chúa đến và ngự nơi Mẹ, nên Mẹ chính là thiếu nữ Sion, là Hòm bia Giao Ước, nơi vinh quang Chúa ngự trị: chính Mẹ là “nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại” (Kh 21,3). Được “đầy ơn phúc", Mẹ đã tận hiến cho Đấng đến ngự nơi Mẹ và là Đấng Mẹ sắp trao ban cho thế gian. “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng bà gồm phúc lạ”. Sau lời chào của thiên sứ, chúng ta lấy lời chào của bà Êlisabeth làm lời chào của chúng ta. “Được tràn đầy Thánh Thần” (Lc 1,41), bà Êlisabeth là người đầu tiên trong chuỗi dài những thế hệ tung hô Đức Maria là người có phúc 26 : “Em thật có phúc vì đã tin...” (Lc 1,45). Đức Maria “có phúc lạ hơn mọi người nữ” vì Mẹ đã tin rằng lời Chúa sẽ được hoàn thành. Nhờ đức tin, ông Abraham đã trở thành phúc lành cho “mọi gia tộc trên mặt đất” (St 12,3). Nhờ đức tin, Đức Maria đã trở thành Mẹ của các kẻ tin; nhờ Mẹ, mọi dân tộc trên mặt đất được đón nhận Đấng là chính phúc lành của Thiên Chúa: “Giêsu, con lòng bà gồm phúc lạ”.
Số 2677 "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con...”. Cùng với bà Êlisabeth chúng ta sửng sốt: “Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?” (Lc 1,43). Đức Maria, vì đã tặng ban cho chúng ta Chúa Giêsu là Con của Mẹ, nên Mẹ là Thân mẫu của Thiên Chúa và là Thân mẫu của chúng ta: chúng ta có thể phó thác cho Mẹ mọi nỗi âu lo và những lời cầu xin của chúng ta. Mẹ cầu nguyện cho chúng ta như Mẹ đã cầu nguyện cho bản thân Mẹ: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói (Lc 1,38). Khi phó thác để Mẹ cầu nguyện cho chúng ta, chúng ta cùng với Mẹ phó dâng bản thân chúng ta cho thánh ý Thiên Chúa: “Nguyện cho ý Cha thể hiện”. “Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử”. Khi xin Đức Mẹ cầu nguyện cho chúng ta, chúng ta nhìn nhận mình là những người tội lỗi khốn cùng và kêu cầu đến “Mẹ của lòng thương xót”, Mẹ hoàn toàn thánh thiện. Chúng ta trao phó bản thân cho Mẹ “khi nay", là ngày hôm nay của cuộc đời chúng ta. Lòng tín thác của chúng ta được mở rộng để ngay từ bây giờ chúng ta đã trao phó “giờ lâm tử” của chúng ta cho Mẹ. Xin Mẹ hiện diện trong giờ phút đó như Mẹ đã hiện diện lúc Con Mẹ chết trên thập giá. Vào giờ chúng ta qua đời, với tư cách là Mẹ chúng ta 27 , xin Mẹ đón nhận và dẫn chúng ta đến với Con của Mẹ, trên thiên đàng.
Số 2678 Lòng đạo đức ở Tây phương thời Trung Cổ đã quảng bá việc cầu nguyện bằng kinh Mân Côi, như một thứ thay thế bình dân cho Các Giờ Kinh phụng vụ. Ở Đông phương, hình thức kinh cầu, như Akathistos và Paraklisis, gần gũi hơn với kinh nguyện cộng đoàn trong các Giáo hội Byzantin; trong khi đó các truyền thống của Armeni, Copte và Syri lại chuộng các thánh thi và thánh ca bình dân kính Mẹ Thiên Chúa. Nhưng kinh Kính Mừng, các thánh thi kính Mẹ Thiên Chúa của thánh Ephrem hoặc của thánh Grêgôriô Narek, về cơ bản vẫn lưu giữ cùng một truyền thống cầu nguyện.
Số 2679 Đức Maria là Người phụ nữ cầu nguyện trọn hảo, là hình ảnh của Hội Thánh. Khi cầu nguyện với Mẹ, chúng ta cùng với Mẹ gắn bó với ý định của Chúa Cha, Đấng sai Con Một Ngài đến để cứu độ tất cả mọi người. Như người môn đệ yêu dấu, chúng ta đón nhận về nhà chúng ta 28 Mẹ Chúa Giêsu, đã trở thành Mẹ của mọi sinh linh. Chúng ta có thể cầu nguyện cùng với Mẹ và kêu cầu Mẹ. Kinh nguyện của Hội Thánh như được nâng đỡ bởi kinh nguyện của Đức Maria. Kinh nguyện này được kết hợp với Mẹ trong niềm hy vọng 29 .
TÓM LƯỢC Số 2680 Việc cầu nguyện chủ yếu dâng lên Chúa Cha, cũng được dâng lên Chúa Giêsu, nhất là qua việc kêu cầu Thánh Danh Người: “Lạy Đức Giêsu Kitô, là Con Thiên Chúa và là Chúa chúng con, xin thương xót chúng con là những kẻ tội lỗi”.
Số 2681 “Không ai có thể nói rằng: Đức Giêsu là Chúa, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3). Hội Thánh mời gọi chúng ta kêu cầu Chúa Thánh Thần như Vị Thầy nội tâm của việc cầu nguyện Kitô giáo.
Số 2682 Vì Đức Trinh Nữ Maria đã cộng tác cách độc đáo với hoạt động của Chúa Thánh Thần, nên Hội Thánh ưa thích cầu nguyện trong sự hiệp thông với Mẹ, để cùng Mẹ tán dương những việc cao cả Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ và để phó thác cho Mẹ những lời khẩn cầu và ca ngợi.
Mục 3: Những người hướng dẫn cầu nguyện Đông đảo các chứng nhân Số 2683 Những chứng nhân đã đi trước chúng ta vào Nước Thiên Chúa, nhất là những vị được Hội Thánh nhìn nhận là “các Thánh", hiệp thông vào truyền thống sống động của việc cầu nguyện, bằng gương sáng đời sống, bằng việc lưu truyền các văn phẩm và bằng lời cầu nguyện hiện nay của các ngài. Các ngài đang chiêm ngưỡng Thiên Chúa, ca tụng Ngài và không ngừng chăm sóc những người còn ở trần gian. Các ngài, những vị đã đi vào “hưởng niềm vui” của Chúa mình, đã được đặt lên trông coi nhiều việc 30 . Sự chuyển cầu của các ngài là việc các ngài phục vụ kế hoạch của Thiên Chúa cách cao cả nhất. Chúng ta có thể và phải cầu nguyện để các ngài chuyển cầu cho chúng ta và cho toàn thế giới.
Số 2684 Trong mầu nhiệm các Thánh thông công, đã có nhiều đường hướng linh đạo phát sinh suốt dòng lịch sử Hội Thánh. Đặc sủng riêng của từng chứng nhân cho tình yêu Thiên Chúa đối với con người, có thể được truyền lại, như “thần trí” của ông Êlia được truyền lại cho ông Êlisê 32 và cho ông Gioan Tẩy Giả 33 , để các môn đệ có thể tham dự vào thần trí ấy 34 . Một linh đạo nào đó cũng là kết tinh của những trào lưu phụng vụ và thần học khác nhau, và làm chứng cho sự hội nhập đức tin vào một môi trường nhân văn trong lịch sử. Các linh đạo Kitô giáo tham dự vào truyền thống sống động của việc cầu nguyện và là những hướng dẫn cần thiết cho các tín hữu. Các linh đạo này, tuy rất đa dạng, đều toả chiếu ánh sáng tinh tuyền và duy nhất của Chúa Thánh Thần. “Thần Khí thật sự là nơi lưu ngụ của các Thánh. Thánh nhân cũng là nơi lưu ngụ riêng của Thần Khí, vì thánh nhân đã tự hiến để ở cùng Thiên Chúa và được gọi là đền thờ của Ngài” 35
Thừa tác viên của việc cầu nguyện Số 2685 Gia đình Kitô hữu là nơi đầu tiên để dạy cầu nguyện. Được xây dựng trên nền tảng bí tích Hôn phối, gia đình là “Hội Thánh tại gia”, nơi đó các con cái Thiên Chúa học cầu nguyện “với tính cách là Hội Thánh và kiên trì trong việc cầu nguyện. Đặc biệt với các trẻ nhỏ, kinh nguyện hằng ngày trong gia đình là chứng từ đầu tiên về ký ức sống động của Hội Thánh luôn được Chúa Thánh Thần khơi dậy.
Số 2686 Các thừa tác viên có chức thánh cũng là những người có trách nhiệm trong việc đào tạo cho anh chị em mình trong Đức Kitô biết cầu nguyện. Những người này, là các tôi tớ của vị Mục tử nhân lành, được truyền chức thánh để dẫn dắt dân Thiên Chúa đến các nguồn mạch sống động của việc cầu nguyện: đến Lời Chúa, phụng vụ, đời sống đối thần, đến “Ngày hôm nay” của Thiên Chúa trong những hoàn cảnh cụ thể 36 .
Số 2687 Nhiều tu sĩ đã dâng hiến trọn đời để cầu nguyện. Từ sa mạc Ai cập, các ẩn sĩ, các đan sĩ nam nữ đã dành thời giờ để ca ngợi Thiên Chúa và chuyển cầu cho dân Ngài. Đời sống thánh hiến không thể tồn tại và triển nở nếu không có kinh nguyện. Đời sống này là một trong những nguồn mạch sống động của việc chiêm niệm và đời sống thiêng liêng trong Hội Thánh.
Số 2688 Việc dạy giáo lý cho thiếu nhi, thiếu niên và người trưởng thành đều hướng tới việc suy gẫm Lời Chúa trong kinh nguyện cá nhân, được hiện tại hóa trong kinh nguyện phụng vụ, và được nội tâm hóa trong mọi lúc, để sinh hoa kết quả trong một đời sống mới. Việc dạy giáo lý cũng là lúc để có thể phân định và giáo dục lòng đạo đức bình dân 37 . Việc học thuộc lòng các kinh căn bản rất cần cho đời sống cầu nguyện; nhưng điều quan trọng là phải giúp người ta cảm nhận được ý nghĩa của những kinh nguyện này 38 .
Số 2689 Các nhóm cầu nguyện hoặc các “trường cầu nguyện” ngày nay là những dấu chỉ và phương tiện để canh tân việc cầu nguyện trong Hội Thánh, nếu được kín múc từ những nguồn mạch đích thực của việc cầu nguyện Kitô giáo. Mối quan tâm đến sự hiệp thông là dấu chỉ của việc cầu nguyện đích thực trong Hội Thánh.
Số 2690 Chúa Thánh Thần ban cho một số tín hữu các ơn khôn ngoan, đức tin và khả năng phân định nhằm phục vụ lợi ích chung là việc cầu nguyện (việc linh hướng). Những người nam cũng như nữ được phúc nhận các ơn này là những thừa tác viên đích thực trong truyền thống sống động của việc cầu nguyện: Vì vậy, linh hồn nào muốn tiến lên trong sự hoàn thiện, theo lời khuyên của thánh Gioan Thánh Giá, “phải xem xét kỹ khi chọn vị linh hướng, vì thầy nào trò nấy, cha nào con nấy”. Ngài còn nói: “Vị linh hướng không phải chỉ thông thái và khôn ngoan, nhưng còn phải có kinh nghiệm.... Nếu vị linh hướng không có kinh nghiệm về một tinh thần trong sạch và chân thật, thì không biết dẫn dắt linh hồn về tinh thần đó, khi Thiên Chúa ban điều đó cho người này, và vị linh hướng cũng không hiểu được điều đó 39 .
Những nơi thuận tiện cho việc cầu nguyện Số 2691 Nhà Thờ, nhà của Thiên Chúa, là nơi thích hợp cho kinh nguyện phụng vụ của cộng đoàn giáo xứ. Đây còn là nơi đặc biệt để thờ lạy Đức Kitô đang hiện diện thật sự trong Bí tích cực thánh. Chọn một nơi thích hợp để cầu nguyện là điều phải quan tâm: Để cầu nguyện riêng, nơi này có thể là một “góc cầu nguyện” với Sách Thánh và các ảnh tượng, để chúng ta có thể hiện diện “nơi kín đáo trước mặt Cha chúng ta 40 . Trong gia đình Kitô giáo, một loại nguyện đường nhỏ cũng rất thuận tiện cho việc cầu nguyện chung. Những nơi có các đan viện, những cộng đoàn này nên tạo điều kiện để các tín hữu được tham dự các Giờ Kinh phụng vụ, và giúp họ có được sự cô tịch cần thiết để cầu nguyện riêng sốt sắng hơn 41 . Những cuộc hành hương nhắc nhớ chúng ta ở trần gian nhưng đang tiến bước về trời. Theo truyền thống đây là những thời gian rất thích hợp để canh tân việc cầu nguyện. Đối với các khách hành hương đang tìm kiếm cho mình những nguồn mạch sống động, các đền thánh là những nơi đặc biệt để họ, “với tính cách là Hội Thánh , sống những thể thức cầu nguyện của Kitô giáo.
TÓM LƯỢC Số 2692 Hội Thánh lữ hành liên kết lời cầu nguyện của mình với lời cầu nguyện của các Thánh, tha thiết nài xin các ngài chuyển cầu cho mình.
Số 2693 Các linh đạo khác nhau của Kitô giáo tham gia vào truyền thống sống động của việc cầu nguyện và là những hướng dẫn rất quý giá cho đời sống thiêng liêng.
Số 2694 Gia đình Kitô giáo là nơi đầu tiên để dạy cầu nguyện.
Số 2695 Các thừa tác viên có chức thánh, đời sống thánh hiến, việc dạy giáo lý, các nhóm cầu nguyện, việc “linh hướng”, là những trợ lực hữu ích cho việc cầu nguyện trong Hội Thánh.
Số 2696 Những nơi thuận tiện nhất để cầu nguyện là những góc cầu nguyện cho cá nhân hay cả gia đình; các đan viện, các đền thánh để hành hương và, nhất là nhà thờ, đối với cộng đoàn giáo xứ, là nơi thích hợp để cầu nguyện phụng vụ và là nơi đặc biệt để tôn thờ Thánh Thể.
CHƯƠNG BA: ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN Số 2697 Cầu nguyện là sự sống của một trái tim mới. Cầu nguyện phải làm cho chúng ta được sống động mọi lúc. Tuy nhiên, chúng ta lại quên Đấng là Sự Sống và là Tất Cả của chúng ta. Vì thế, các bậc thầy linh đạo, theo truyền thống của Đệ Nhị Luật và của các tiên tri, đều nhấn mạnh đến việc cầu nguyện như là “nhớ đến Thiên Chúa”, là thường xuyên đánh thức “ký ức của trái tim". “Chúng ta phải nhớ đến Thiên Chúa thường xuyên hơn là chúng ta hít thở”. Nhưng chúng ta không thể cầu nguyện “trong mọi lúc”, nếu không có những thời điểm chủ ý dành để cầu nguyện: đây là những nhịp mạnh của kinh nguyện Kitô giáo, chuyên chú hơn và kéo dài hơn.
Số 2698 Truyền thống của Hội Thánh đề ra cho các tín hữu những chu kỳ cầu nguyện để nuôi dưỡng việc cầu nguyện liên tục. Chu kỳ hằng ngày là: kinh sáng và kinh chiều, trước và sau các bữa ăn, các Giờ Kinh phụng vụ. Ngày Chúa Nhật, mà trọng tâm là Thánh lễ, được thánh hóa chủ yếu bằng kinh nguyện. Chu kỳ năm phụng vụ và những ngày lễ lớn là những nhịp căn bản cho đời sống cầu nguyện của các Kitô hữu.
Số 2699 Chúa dẫn dắt mỗi người bằng những đường lối và cách thức đẹp ý Ngài. Mỗi tín hữu cũng đáp lời Ngài theo quyết định của lòng mình và những cách diễn đạt cá vị kinh nguyện của mình. Tuy nhiên, truyền thống Kitô giáo đã lưu giữ ba cách diễn đạt quan trọng của đời sống cầu nguyện: khẩu nguyện, suy niệm và cầu nguyện chiêm niệm. Đặc điểm chung của cả ba cách diễn đạt này là sự tập trung tâm hồn. Thái độ tỉnh thức để tuân giữ Lời Chúa và luôn ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa làm cho ba cách diễn đạt này thành những nhịp mạnh của đời sống cầu nguyện.
Mục 1: Những cách diễn đạt việc cầu nguyện I. Khẩu nguyện Số 2700 Thiên Chúa nói với con người bằng Lời của Ngài. Chính nhờ các lời, trong tâm trí hay đọc ra miệng, mà việc cầu nguyện của chúng ta hình thành. Nhưng điều tối quan trọng là sự hiện diện của trái tim hướng về Đấng chúng ta ngỏ lời khi cầu nguyện. “Lời cầu nguyện của chúng ta có được đoái nhận hay không, không hệ tại ở nhiều lời, nhưng ở sự tỉnh thức của tâm trí 2 .
Số 2701 Khẩu nguyện là yếu tố rất cần thiết cho đời sống Kitô hữu. Các môn đệ bị lôi cuốn bởi việc cầu nguyện thầm lặng của Thầy mình, đã được Đức Kitô dạy cho một kinh khẩu nguyện: đó là Kinh Lạy Cha. Chúa Giêsu không những cầu nguyện theo phụng vụ của Hội đường, nhưng các sách Tin Mừng còn cho ta thấy Người lớn tiếng bày tỏ lời cầu nguyện riêng của Người nữa, từ việc hân hoan chúc tụng Chúa Cha 3 cho đến lúc ngặt nghèo ở Giêtsêmani 4 .
Số 2702 Nhu cầu liên kết các giác quan với việc cầu nguyện nội tâm đáp ứng đòi hỏi của bản tính loài người chúng ta. Chúng ta là thân xác và tinh thần, và chúng ta nghiệm thấy nhu cầu phải diễn đạt những tâm tình của chúng ta ra bên ngoài. Cần cầu nguyện với trót cả con người chúng ta, để mang lại sức lực tối đa cho lời khẩn cầu của chúng ta.
Số 2703 Nhu cầu này cũng đáp ứng đòi hỏi của Thiên Chúa. Thiên Chúa tìm kiếm những kẻ thờ phượng Ngài trong Thần Khí và Sự Thật, và do đó tìm kiếm lời cầu nguyện dâng lên từ cõi sâu thẳm của linh hồn. Ngài cũng muốn cách diễn đạt bên ngoài kết hợp thân xác với lời cầu nguyện nội tâm, bởi vì việc cầu nguyện như thế sẽ dâng lên Thiên Chúa sự tôn kính trọn vẹn, là điều Ngài có quyền đòi hỏi.
Số 2704 Vì khẩu nguyện phát biểu ra bên ngoài và hợp với bản tính nhân loại, nên rất thích hợp với việc cầu nguyện của đám đông. Ngay cả lời cầu nguyện thầm kín nhất cũng không thể không cần đến khẩu nguyện. Việc cầu nguyện trở thành nội tâm tuỳ mức độ chúng ta ý thức về Đấng mà chúng ta thưa chuyện. Khi đó, khẩu nguyện của Hội Thánh trở thành hình thức đầu tiên của việc cầu nguyện chiêm niệm.
II. Suy niệm Số 2705 Suy niệm trước tiên là một sự tìm kiếm. Tâm trí tìm hiểu lý do và cách diễn đạt đời sống Kitô hữu như thế nào, để gắn bó và đáp lại điều Chúa đòi hỏi. Điều khó trong suy niệm là phải cầm trí. Thông thường, người ta dùng một cuốn sách nào đó để hỗ trợ; và các Kitô hữu không thiếu những sách như vậy: Sách Thánh, đặc biệt là các sách Tin Mừng, các ảnh tượng thánh, các bản văn phụng vụ theo ngày hoặc theo mùa, tác phẩm của các Linh phụ, các sách linh đạo, cuốn sách vĩ đại là công trình tạo dựng và cuốn sách vĩ đại là lịch sử, trang sách về “Ngày hôm nay” của Thiên Chúa.
Số 2706 Việc suy niệm điều đã đọc đưa đến chỗ áp dụng cho riêng mình qua việc đối chiếu với đời mình. Đến đây một cuốn sách khác lại được mở ra: đó là cuốn sách cuộc đời mình. Từ tư tưởng bước sang thực tại. Tuỳ theo mức độ khiêm tốn và đức tin, ta có thể khám phá ra những giao động trong trái tim và có thể phân định chúng. Đó là thực hành chân lý hầu đạt tới ánh sáng: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?"
Số 2707 Có bao nhiêu bậc thầy tu đức thì có bấy nhiêu phương pháp suy niệm. Kitô hữu phải suy niệm đều đặn, để khỏi trở nên giống như ba loại đất đầu tiên trong dụ ngôn người gieo giống 6 . Nhưng phương pháp chỉ là người hướng dẫn mà thôi: điều quan trọng là chúng ta phải tiến bước, cùng với Chúa Thánh Thần, trên con đường duy nhất của cầu nguyện là Chúa Kitô Giêsu.
Số 2708 Việc suy niệm vận dụng tư tưởng, trí tưởng tượng, cảm xúc và ước muốn. Sự huy động này là cần thiết để đào sâu các xác tín đức tin, để khơi dậy sự hối cải tâm hồn và củng cố ý chí muốn bước theo Đức Kitô. Việc cầu nguyện của Kitô giáo ưu tiên chăm chú vào việc suy niệm “các mầu nhiệm của Đức Kitô”, như trong lectio divina (đọc và suy gẫm lời Chúa) và kinh Mân Côi. Hình thức suy nghĩ và cầu nguyện này rất có giá trị, nhưng việc cầu nguyện Kitô giáo còn phải tiến xa hơn nữa: nhằm hiểu biết tình yêu của Chúa Giêsu, nhằm kết hợp với Người.
III. Cầu nguyện chiêm niệm Số 2709 Cầu nguyện chiêm niệm là gì? Thánh nữ Têrêsa trả lời: "Theo tôi, tâm nguyện không gì khác hơn là cuộc trao đổi thân tình giữa bạn hữu, trong đó chúng ta năng dành thời gian để một mình ở bên Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta biết là Ngài yêu thương chúng ta" 7 . Việc cầu nguyện chiêm niệm tìm kiếm “Đấng lòng ta yêu mến” (Dc 1,7) 8 . Chúng ta tìm kiếm Chúa Giêsu, và Chúa Cha hiện diện trong Người, bởi vì khao khát Người luôn là khởi đầu cho sự yêu mến Người. Và chúng ta tìm kiếm Người trong đức tin tinh tuyền, một đức tin khiến chúng ta được sinh ra bởi Người và được sống trong Người. Chúng ta cũng có thể suy niệm khi cầu nguyện chiêm niệm, nhưng cái nhìn luôn hướng về Chúa.
Số 2710 Việc chọn lúc nào và bao lâu để cầu nguyện chiêm niệm tuy thuộc một ý chí mạnh mẽ, bộc lộ những điều kín nhiệm trong lòng. Không phải chỉ chiêm niệm khi nào có thời giờ, nhưng chúng ta phải dành thời giờ để ở với Chúa, với quyết tâm không rút lại thời gian, dù việc gặp gỡ có cực khổ và khô khan. Không thể suy niệm bất cứ lúc nào, nhưng luôn luôn có thể cầu nguyện chiêm niệm bởi vì nó không lệ thuộc vào điều kiện sức khoẻ, công tác hay cảm xúc. Trái tim là nơi tìm kiếm và gặp gỡ, trong khó nghèo và tin tưởng.
Số 2711 Khởi sự cầu nguyện chiêm niệm cũng tương tự như khởi đầu Thánh lễ: dưới tác động của Chúa Thánh Thần, chúng ta phải hồi tâm và cả hữu thể của chúng ta, sống trong nhà của Chúa, là chính chúng ta, dục lòng tin để tiến vào sự hiện diện của Đấng đang chờ đón chúng ta, chúng ta phải bỏ rơi mặt nạ và hướng tâm hồn về Chúa là Đấng yêu thương chúng ta, để phó dâng bản thân chúng ta cho Ngài như lễ phẩm cần được thanh luyện và biến đổi.
Số 2712 Việc cầu nguyện chiêm niệm là kinh nguyện của con cái Thiên Chúa, của tội nhân đã được tha thứ, sẵn sàng đón nhận tình yêu đã yêu thương họ, và muốn đáp lại tình yêu đó bằng yêu mến nhiều hơn. Nhưng người đó biết rõ tình yêu báo đáp của họ là tình yêu Chúa Thánh Thần đã tuôn đổ vào lòng họ, bởi vì tất cả mọi ân sủng đều đến từ Thiên Chúa. Cầu nguyện chiêm niệm là phó thác cách khiêm tốn và khó nghèo cho thánh ý yêu thương của Chúa Cha trong sự hợp nhất ngày càng sâu xa hơn với Con yêu dấu của Ngài.
Số 2713 Như thế, việc cầu nguyện chiêm niệm là hình thức đơn sơ nhất của mầu nhiệm cầu nguyện. Việc cầu nguyện chiêm niệm là một hồng ân, một ân sủng, chỉ có thể đón nhận trong sự khiêm tốn và khó nghèo. Cầu nguyện chiêm niệm là một tương quan của Giao ước được Thiên Chúa thiết lập nơi đáy lòng chúng ta 9 . Cầu nguyện chiêm niệm là hiệp thông: Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, trong sự hiệp thông này, làm cho con người, là hình ảnh Thiên Chúa, trở nên “giống như Thiên Chúa”.
Số 2714 Cầu nguyện chiêm niệm cũng là nhịp mạnh cách đặc biệt của việc cầu nguyện. Trong cầu nguyện chiêm niệm, Chúa Cha củng cố chúng ta nên mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Ngài trong con người nội tâm, để Đức Kitô cư ngụ trong lòng chúng ta nhờ đức tin và để chúng ta được bén rễ sâu và được xây dựng vững chắc trong đức mến 10 .
Số 2715 Cầu nguyện chiêm niệm là cái nhìn đầy lòng tin, chiêm ngắm Chúa Giêsu. Người dân quê làng Ars xưa đã cầu nguyện trước Nhà Tạm rồi nói với cha sở thánh của ông: “Tôi nhìn Chúa và Chúa nhìn tôi” 11 . Sự chăm chú nhìn Chúa như vậy là sự từ bỏ “cái tôi”. Cái nhìn của Chúa thanh luyện tâm hồn chúng ta. Ánh sáng trong cái nhìn của Chúa Giêsu chiếu sáng con mắt tâm hồn chúng ta; ánh sáng ấy dạy chúng ta biết nhìn mọi sự dưới ánh sáng chân lý và lòng thương xót của Người đối với tất cả mọi người. Việc cầu nguyện chiêm niệm cũng hướng cái nhìn vào các mầu nhiệm của cuộc đời Đức Kitô. Như thế, việc cầu nguyện này dạy “sự hiểu biết nội tâm về Chúa để yêu mến và bước theo Người nhiều hơn nữa 12 .
Số 2716 Cầu nguyện chiêm niệm là lắng nghe Lời Chúa. Đây không phải là một thái độ thụ động, mà là sự tuân phục của đức tin, là sự chấp nhận tuyệt đối của người tôi tớ và là sự gắn bó yêu thương của người con. Sự lắng nghe này tham dự vào tiếng “Amen” của Người Con đã hạ mình làm Tôi tớ và tiếng “Fiat” của người nữ tì khiêm tốn của Chúa.
Số 2717 Cầu nguyện chiêm niệm là thinh lặng, “biểu tượng của thế giới đang tới” 13 , hay “lời thầm lặng của tình yêu” 14 . Các lời nói trong việc cầu nguyện chiêm niệm không phải là những diễn từ, nhưng là những cọng rơm nuôi ngọn lửa tình yêu. Trong sự thinh lặng này, là điều con người “bên ngoài” không thể chịu đựng nổi, Chúa Cha nói cho chúng ta biết Ngôi Lời của Ngài nhập thể, chịu đau khổ, chịu chết và sống lại; Thần Khí nghĩa tử giúp cho chúng ta tham dự vào lời cầu nguyện của Chúa Giêsu.
Số 2718 Cầu nguyện chiêm niệm là sự kết hợp với lời cầu nguyện của Đức Kitô vì cho chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người. Mầu nhiệm Đức Kitô được Hội Thánh cử hành trong Thánh Lễ và được Chúa Thánh Thần làm cho sống động trong chiêm niệm, để mầu nhiệm đó được bày tỏ qua các hành vi yêu mến.
Số 2719 Cầu nguyện chiêm niệm là sự hiệp thông tình yêu mang lại sự sống cho nhiều người, nếu chúng ta chấp nhận bước đi trong đêm tối đức tin. Đêm Vượt Qua của cuộc Phục sinh phải xuyên qua đêm hấp hối và đêm huyệt mộ. Đó là ba thời trong Giờ của Chúa Giêsu mà Thần Khí của Người (chứ không phải “xác thịt yếu đuối”) đã để cho Người phải trải qua; trong chiêm niệm, chúng ta đưa ba thời trong Giờ của Người vào đời sống. Chúng ta phải chấp nhận “canh thức một giờ với Người” 15 .
TÓM LƯỢC Số 2720 Hội Thánh mời gọi các tín hữu cầu nguyện đều đặn: qua các kinh nguyện hằng ngày, các Giờ Kinh phụng vụ, Thánh lễ Chúa nhật và các lễ trọng của năm phụng vụ.
Số 2721 Truyền thống Kitô giáo có ba cách diễn đạt quan trọng của đời sống cầu nguyện: khẩu nguyện, suy niệm và cầu nguyện chiêm niệm. Đặc điểm chung của cả ba hình thức này là tập trung tâm hồn.
Số 2722 Khẩu nguyện, dựa trên sự kết hợp của thân thể với tinh thần trong bản tính con người, nối kết thân thể với việc cầu nguyện nội tâm của tâm hồn, theo gương Đức Kitô, Đấng cầu nguyện với Cha của Người và dạy các môn đệ kinh “Lạy Cha".
Số 2723 Suy niệm là tìm kiếm trong tinh thần cầu nguyện, vận dụng tư tưởng, trí tưởng tượng, cảm xúc và ước muốn. Mục tiêu của việc suy niệm là để cho điều đã suy tư trong đức tin trở nên của riêng mình, qua việc đối chiếu với thực trạng cuộc đời của mình.
Số 2724 Cầu nguyện chiêm niệm là hình thức đơn sơ của mầu nhiệm cầu nguyện. Đó là cái nhìn của đức tin chiêm ngắm Chúa Giêsu, lắng nghe Lời Chúa, mến yêu thầm lặng. Cầu nguyện chiêm niệm là sự kết hợp với lời cầu nguyện của Đức Kitô, vì cho chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người.
Mục 2: Cuộc chiến đấu của việc cầu nguyện Số 2725 Việc cầu nguyện là một quà tặng của ân sủng và là lời đáp lại kiên vững từ phía chúng ta. Nó luôn đòi phải cố gắng. Những vị cầu nguyện nổi tiếng trong Cựu Ước trước Đức Kitô, cũng như Mẹ Thiên Chúa và các Thánh cùng với Chúa Giêsu đều dạy chúng ta: cầu nguyện là một cuộc chiến đấu. Chiến đấu chống lại ai? Chống lại chính chúng ta và chống lại những mưu mô của Tên cám dỗ, là kẻ muốn làm tất cả để con người bỏ cầu nguyện, bỏ kết hợp với Thiên Chúa của mình. Chúng ta cầu nguyện như chúng ta sống, bởi vì chúng ta sống như chúng ta cầu nguyện. Nếu ai không muốn thường xuyên hoạt động theo Thần Khí của Đức Kitô, thì không thể nào thường xuyên cầu nguyện nhân danh Người. “Cuộc chiến đấu thiêng liêng của cuộc đời mới của Kitô hữu không thể tách rời khỏi cuộc chiến đấu của việc cầu nguyện.
I. Những trở ngại cho việc cầu nguyện Số 2726 Trong cuộc chiến đấu của việc cầu nguyện, chúng ta phải đương đầu với những quan niệm sai lầm về cầu nguyện nơi chính bản thân và chung quanh chúng ta. Một số người coi việc cầu nguyện chỉ đơn giản là một hoạt động có tính cách tâm lý; một số khác lại coi là một cố gắng tập trung tinh thần để đạt tới tình trạng tâm trí trống rỗng. Một số khác giản lược việc cầu nguyện vào những thái độ và lời nói mang tính nghi thức. Trong vô thức của nhiều Kitô hữu, cầu nguyện là một công việc không thể đi đôi với tất cả những gì họ phải làm: họ không có thời giờ. Những người tìm kiếm Thiên Chúa bằng cầu nguyện lại mau nản chí, bởi vì họ không biết rằng việc cầu nguyện còn xuất phát từ Chúa Thánh Thần chứ không phải chỉ do mình mà thôi.
Số 2727 Chúng ta còn phải đương đầu với những cách suy nghĩ của “trần gian này”; chúng sẽ xâm nhập vào chúng ta, nếu chúng ta không cảnh giác, chẳng hạn: Có người cho rằng chỉ những gì lý trí và khoa học chứng minh được mới là chân lý (còn cầu nguyện là một mầu nhiệm vượt quá ý thức và vô thức của chúng ta); Có người đề cao giá trị của sản xuất và lợi nhuận (còn việc cầu nguyện là vô ích vì phi sản xuất); Có người lấy khoái lạc và tiện nghi làm thước đo chân thiện mỹ (trong khi cầu nguyện chính là “yêu mến Vẻ đẹp được lôi cuốn bởi vinh quang của Thiên Chúa hằng sống và chân thật). Có người coi cầu nguyện là chạy trốn khỏi trần gian, để chống lại chủ nghĩa duy hoạt động (trong khi cầu nguyện Kitô giáo không hề trốn khỏi dòng đời, hoặc cắt đứt với cuộc sống).
Số 2728 Cuối cùng, cuộc chiến đấu mà chúng ta phải đương đầu là cảm giác về những thất bại trong việc cầu nguyện: nản chí vì khô khan, buồn phiền vì mình không hiến dâng tất cả cho Chúa, bởi vì chúng ta “có nhiều của cải” 16 , thất vọng vì Chúa không theo ý mình, tính kiêu ngạo bị tổn thương và trở nên chai lì khi buộc nhìn nhận thân phận tội nhân bất xứng, dị ứng với việc cầu nguyện tinh ròng (gratuitatem orationis), v.v..... Những điều này luôn luôn dẫn đến cùng một kết luận: cầu nguyện để làm gì? Để thắng vượt những chướng ngại này, chúng ta phải chiến đấu một cách khiêm nhường, tin tưởng và kiên trì.
II. Tâm hồn khiêm tốn và tỉnh thức Trước những khó khăn của việc cầu nguyện Số 2729 Khó khăn thường xuyên khi chúng ta cầu nguyện là sự chia trí. Có thể chia trí về các lời đọc và ý nghĩa của chúng, trong khẩu nguyện; sâu xa hơn, về Đấng chúng ta đang thưa chuyện, trong khẩu nguyện (cầu nguyện trong phụng vụ hay riêng tư), trong suy niệm và cầu nguyện chiêm niệm. Bận tâm với việc xua đuổi những sự chia trí này là đã mắc bẫy của chúng, trong khi chúng ta chỉ cần trở về với trái tim mình là đủ: sự chia trí bộc lộ cho thấy điều mình đang quyến luyến; khiêm tốn ý thức được điều đó trước mặt Chúa, sẽ nhắc nhở chúng ta phải ưu tiên yêu mến Ngài, kiên quyết dâng tâm hồn cho Ngài để xin Ngài thanh tẩy. Cuộc chiến đấu là ở chỗ đó: chúng ta chọn Chúa để phục vụ Ngài 17 .
Số 2730 Về mặt tích cực, cuộc chiến đấu chống lại “cái tôi” thích chiếm hữu và thống trị của chúng ta chính là sự tỉnh thức, tức là sự tiết độ của tâm hồn. Khi kêu gọi sự tỉnh thức, Chúa Giêsu luôn quy chiếu về việc Người đến vào ngày cuối cùng và từng ngày, vào “Hôm nay”. Chàng Rể đến vào nửa đêm, nên ta không được để cho ánh sáng đức tin tàn lụi: “Nghĩ về Ngài lòng con tự nhủ: hãy tìm kiếm Thánh Nhan" (Tv 27,8).
Số 2731 Một khó khăn khác, đặc biệt đối với những người thành tâm muốn cầu nguyện, là sự khô khan. Nó là một phần của việc cầu nguyện, khi tâm hồn bị tước đoạt, không còn hứng thú đối với những ý tưởng, những hoài niệm và những tâm tình, kể cả về mặt thiêng liêng. Đây chính là lúc phải có đức tin tinh tuyền, một đức tin trung thành ở lại với Chúa Giêsu "trong hấp hối và trong huyệt mộ”. “Hạt lúa gieo vào lòng đất, ... nếu chết đi nó mới sinh được nhiều hạt khác (Ga 12,24). Nếu sự khô khan là do thiếu gốc rễ, bởi vì lời rơi trên sỏi đá, thì cuộc chiến đấu liên quan đến việc hối cải 18 .
Trước những cám dỗ trong việc cầu nguyện Số 2732 Cơn cám dỗ thường gặp nhất, kín đáo nhất, là chúng ta thiếu đức tin. Đây không phải là việc tuyên bố rõ ràng không tin Chúa, cho bằng một chọn lựa ưu tiên trong thực tế. Khi chúng ta khởi sự cầu nguyện, hàng ngàn công việc và lo toan, được coi là cấp bách, xuất hiện như những điều đòi được ưu tiên: một lần nữa, đây là lúc chúng ta thấy rõ lòng mình và tình cảm ưu tiên của nó. Có khi chúng ta quay về với Chúa như chỗ cậy dựa cuối cùng, nhưng liệu chúng ta có thật sự tin điều đó không? Có khi chúng ta nhận Chúa làm đồng minh, nhưng lòng vẫn còn tự cao tự đại. Trong mọi trường hợp, sự thiếu đức tin của chúng ta cho thấy rằng chúng ta chưa có một tâm hồn khiêm tốn: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
Số 2733 Một cám dỗ khác do sự tự cao tự đại mở lối, là sự nguội lạnh. Các linh phụ coi đây là một hình thức suy nhược tinh thần vì nới lỏng khổ chế, giảm thiểu canh thức, chểnh mảng tâm hồn. “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26,41). Càng trèo cao càng té nặng. Sự nản chí, phiền muộn, là mặt trái của sự tự cao tự đại. Còn người khiêm tốn không lạ gì về sự khốn khổ của mình, chính điều đó khiến họ càng phó thác hơn, và kiên trì đứng vững.
III. Lòng tin tưởng của người con hiếu thảo Số 2734 Lòng tin tưởng của người con hiếu thảo bị thử thách - và được chứng thực - khi gặp gian truân 19 . Khó khăn lớn nhất liên quan đến việc cầu xin, cho bản thân hay cho kẻ khác. Có người thôi không cầu nguyện nữa, vì nghĩ rằng lời xin của mình không được nhậm lời. Ở đây, có hai vấn nạn được đặt ra: Tại sao chúng ta nghĩ rằng lời cầu xin của chúng ta không được nhậm lời? Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được nhậm lời, “mang lại hiệu quả"? Tại sao chúng ta phàn nàn vì không được nhậm lời?
Số 2735 Trước hết, có một nhận xét này đáng làm chúng ta ngạc nhiên. Khi ngợi khen Thiên Chúa hay tạ ơn Ngài vì các ơn lành Ngài ban, chúng ta ít lo tìm hiểu xem lời cầu nguyện của chúng ta có đẹp lòng Chúa hay không. Trái lại, khi cầu nguyện xin ơn, chúng ta đòi thấy hiệu quả của lời cầu xin đó. Vậy hình ảnh nào về Thiên Chúa thúc đẩy chúng ta cầu nguyện? Một phương tiện để chúng ta sử dụng, hoặc Đấng là Cha của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta?
Số 2736 Chúng ta có xác tín điều này không: “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải” (Rm 8,26)? Chúng ta có xin Thiên Chúa “những điều thích hợp không? Cha trên trời biết rõ điều chúng ta cần, trước khi chúng ta xin Ngài 20 ; nhưng Ngài chờ đợi lời cầu xin của chúng ta bởi vì phẩm giá của con cái Ngài là ở nơi sự tự do của họ. Vì vậy phải cầu nguyện, với Thần Khí tự do của Ngài, để chúng ta có thể thật sự biết được ước muốn của Ngài 21 .
Số 2737 "Anh em không có là vì anh em không xin. Anh em xin mà không được là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc" (Gc 4,2-3) 22 . Nếu chúng ta cầu xin với một trái tim bị chia sẻ, “ngoại tình” 23 , thì Thiên Chúa không thể nhậm lời chúng ta, bởi vì Ngài muốn điều tốt lành cho chúng ta, muốn chúng ta được sống. "Hay anh em nghĩ rằng lời Kinh Thánh sau đây là vô nghĩa: Thần khí mà Thiên Chúa đã đặt trong chúng ta ước muốn đến phát ghen lên?" (Gc 4,5). Thiên Chúa “phát ghen” vì chúng ta, đó là dấu chỉ cho thấy Ngài thật lòng yêu thương chúng ta. Chúng ta hãy ước muốn theo Thần Khí của Ngài và chúng ta sẽ được nhậm lời: “Bạn đừng buồn nếu bạn không được Thiên Chúa ban ngay điều bạn xin; vì Ngài muốn cho bạn được nhiều ích lợi hơn nữa, nhờ bạn kiên trì trong cầu nguyện 24 . “Ngài muốn tôi luyện những ước muốn của chúng ta trong cầu nguyện, để chúng ta có khả năng đón nhận những gì Ngài sẵn lòng ban" 25 .
Lời cầu nguyện của chúng ta đạt được hiệu quả như thế nào? Số 2738 Mạc khải về cầu nguyện trong nhiệm cục cứu độ dạy chúng ta rằng đức tin dựa trên hành động của Thiên Chúa trong lịch sử. Lòng tin tưởng của người con hiếu thảo được khơi dậy cách tuyệt vời bằng hành động của Ngài: bằng cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Con Ngài. Việc cầu nguyện Kitô giáo là sự cộng tác với sự quan phòng của Ngài, với ý định yêu thương của Ngài đối với nhân loại.
Số 2739 Theo thánh Phaolô, lòng tin tưởng này là bạo dạn 26 , vì đặt nền tảng trên lời cầu nguyện của Thần Khí trong chúng ta và trên tình yêu trung tín của Chúa Cha, Đấng đã ban cho chúng ta Con Một Ngài 27 . Sự biến đổi tâm hồn của người cầu nguyện là lời đáp đầu tiên cho lời cầu xin của chúng ta.
Số 2740 Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu làm cho lời cầu nguyện Kitô giáo trở thành lời cầu xin hữu hiệu. Người là mẫu gương cho chúng ta; Người cầu nguyện trong chúng ta và cùng với chúng ta. Bởi vì tâm hồn của Chúa Con không tìm điều gì khác ngoài điều làm đẹp lòng Chúa Cha, thì làm sao tâm hồn các nghĩa tử lại chỉ gắn bó với các hồng ân hơn là với Đấng ban hồng ân?
Số 2741 Chúa Giêsu còn đứng vào vị trí của chúng ta để cầu nguyện cho chúng ta. Mọi lời cầu xin của chúng ta đều được thâu tóm lại, một lần cho mãi mãi, trong tiếng kêu lớn của Người trên Thập Giá và đã được Chúa Cha nhậm lời trong cuộc Phục sinh của Người; và do đó, Người không ngừng chuyển cầu cho chúng ta bên Chúa Cha 127 . Nếu lời cầu nguyện của chúng ta được nối kết chặt chẽ với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong lòng tín thác và sự bạo dạn của người con hiếu thảo, thì chúng ta sẽ nhận được tất cả những gì chúng ta cầu xin nhân danh Người, nhiều hơn hẳn ơn nọ ơn kia: đó là chính Chúa Thánh Thần, Đấng gồm tóm mọi hồng ân.
IV. Kiên trì trong tình yêu Số 2742 “Hãy cầu nguyện không ngừng" (1 Tx 5,17). "Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha (Ep 5,20). “Theo Thần Khí hướng dẫn, anh em hãy dùng mọi lời kinh và mọi tiếng van nài mà cầu nguyện luôn mãi... Anh em hãy chuyên cần tỉnh thức và cầu xin cho toàn thể dân thánh” (Ep 6,18). “Chúng ta không được truyền dạy là phải luôn lao động, canh thức, giữ chay; nhưng chúng ta có luật là phải cầu nguyện không ngừng 128 . Nhiệt tình cầu nguyện liên lỉ chỉ có thể phát xuất từ tình yêu. Chống lại sự nặng nề và tính ươn lười của chúng ta, cuộc chiến đấu của việc cầu nguyện là cuộc chiến đấu của tình yêu khiêm nhường, tin tưởng và kiên trì. Tình yêu này mở tâm hồn chúng ta ra trước ba điều hiển nhiên, sáng tỏ và có sức sống của đức tin:
Số 2743 Lúc nào chúng ta cũng có thể cầu nguyện: thời gian của Kitô hữu là thời gian của Đức Kitô phục sinh, Đấng đang ở với chúng ta “mọi ngày” (Mt 28,20), cho dù có phong ba bão tố 129 . Thời giờ của chúng ta ở trong tay Thiên Chúa: “Một người ngay khi đang ở giữa chợ hay đi đường, vẫn có thể chăm chú cầu nguyện; tương tự như thế, người khác đang làm việc trong xưởng thợ hay đang thuộc da vẫn có thể hướng tâm hồn lên Thiên Chúa; một người giúp việc đang đi mua sắm, hoặc tất tả ngược xuôi hoặc làm việc trong nhà bếp ... vẫn có thể thốt lên lời cầu nguyện sốt sắng tự đáy lòng 130 .
Số 2744 Cầu nguyện là một nhu cầu sống còn. Kiểu nói đối nghịch không kém phần thuyết phục là: nếu không để Thần Khí hướng dẫn, chúng ta sẽ lại rơi vào ách nô lệ của tội lỗi 131 . Làm thế nào Thần Khí có thể trở thành “sự sống của chúng ta”, nếu lòng chúng ta xa cách Ngài? “Không có gì sánh được với cầu nguyện: rõ ràng cầu nguyện là điều làm cho những cái không thể thành cái có thể, những điều khó thành điều dễ.... Không thể nào... người cầu nguyện... lại phải sa vào tội lỗi bao giờ” 132 . “Ai cầu nguyện chắc chắn sẽ được cứu độ; ai không cầu nguyện, chắc chắn sẽ bị án phạt 133 .
Số 2745 Cầu nguyện và đời sống Kitô hữu không thể tách biệt nhau bởi vì do cùng một tình yêu và cùng một sự từ bỏ vì tình yêu. Do cùng một sự hòa hợp đầy yêu mến của người con hiếu thảo với kế hoạch của Chúa Cha. Do cùng một sự hợp nhất có sức biến đổi trong Chúa Thánh Thần, Đấng làm chúng ta nên giống Đức Kitô Giêsu mỗi ngày một hơn. Do cùng một tình yêu đối với mọi người, là chính tình yêu Chúa Giêsu đã yêu mến chúng ta. “Tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy thì Ngài ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15,16-17). “Ai cầu nguyện không ngừng, là người biết liên kết việc cầu nguyện với những công việc phải làm, và liên kết những hành động thích hợp với việc cầu nguyện; vì chưng, chỉ có cách đó, chúng ta mới có thể đón nhận và thực hiện được mệnh lệnh hãy cầu nguyện không ngừng 134 .
Lời cầu nguyện trong Giờ của Chúa Giêsu Số 2746 Khi đến Giờ của Người, Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Chúa Cha 135 . Lời cầu nguyện của Người, lời dài nhất được sách Tin Mừng lưu truyền, bao gồm toàn bộ Nhiệm cục tạo dựng và cứu độ, cũng như cả cái Chết và sự Phục sinh của Người. Lời cầu nguyện trong Giờ của Chúa Giêsu vẫn luôn còn là lời cầu nguyện của Người, cũng như cuộc Vượt Qua của Người, đã diễn ra “một lần cho mãi mãi”, vẫn luôn hiện diện trong phụng vụ của Hội Thánh Người.
Số 2747 Truyền thống Kitô giáo gọi lời nguyện này một cách xác đáng là “lời nguyện tư tế của Chúa Giêsu. Đây chính là lời cầu nguyện của Vị Thượng Tế của chúng ta, lời cầu nguyện này không thể tách rời khỏi cuộc hiến tế của Người, khỏi cuộc Vượt Qua của Người để về cùng Chúa Cha, trong đó chính Người “được thánh hiến” 136 trọn vẹn cho Chúa Cha.
Số 2748 Trong lời cầu nguyện của cuộc Vượt Qua, của cuộc hiến tế này, mọi sự “được quy tụ” 137 trong Người: Thiên Chúa và thế gian, Ngôi Lời và xác phàm, sự sống vĩnh cửu và thời gian, tình yêu tự trao nộp và tội phản bội lại tình yêu, các môn đệ đang có mặt và những người sẽ tin vào Người nhờ lời của các ông, sự hạ mình và vinh quang. Đó là lời cầu nguyện của sự Hợp nhất.
Số 2749 Chúa Giêsu đã hoàn thành toàn bộ công trình của Chúa Cha và lời cầu nguyện cũng như hy lễ của Người trải rộng tới lúc hoàn tất thời gian. Lời cầu nguyện trong Giờ của Người hoàn thành những thời buổi cuối cùng và dẫn đưa chúng đến chỗ hoàn tất. Chúa Giêsu, Người Con đã được Chúa Cha trao cho mọi sự, đã trao hiến trọn vẹn cho Chúa Cha và đồng thời Người tỏ ra mình hoàn toàn tự do 138 , nhờ quyền năng Chúa Cha ban cho Người trên mọi xác phàm. Người Con, Đấng đã trở thành Người Tôi Tớ, là Chúa, là Đấng Toàn Năng (Pantocrator). Vị Thượng Tế cao cả của chúng ta, Đấng cầu nguyện cho chúng ta, cũng là Đấng cầu nguyện trong chúng ta, và là Thiên Chúa, Đấng nhận lời chúng ta cầu nguyện.
Số 2750 Khi đã thuộc về Danh thánh của Chúa Giêsu, chúng ta có thể đón nhận, từ bên trong, lời cầu nguyện chính Người dạy chúng ta: “Lạy Cha chúng con”. Lời cầu nguyện tư tế của Người, từ bên trong, gợi hứng cho những lời cầu xin quan trọng của kinh Lạy Cha: quan tâm đến Danh Cha 139 , nhiệt tình với Nước Cha (vinh quang 140 ), chu toàn Ý Cha, kế hoạch cứu độ của Ngài 141 và sự giải thoát khỏi sự dữ 142 .
Số 2751 Cuối cùng, trong lời cầu nguyện này, Chúa Giêsu mạc khải và dạy chúng ta sự “hiểu biết” bất khả phân ly về Chúa Cha và Chúa Con 143 . Sự hiểu biết ấy chính là mầu nhiệm của đời sống cầu nguyện.
TÓM LƯỢC Số 2752 Cầu nguyện đòi phải cố gắng và chiến đấu chống lại chính chúng ta và chống lại những mưu mô của Tên cám dỗ. Cuộc chiến đấu của việc cầu nguyện không thể tách rời khỏi cuộc “chiến đấu thiêng liêng vốn cần thiết để Kitô hữu thường xuyên hoạt động theo Thần Khí của Đức Kitô: Chúng ta cầu nguyện như chúng ta sống, bởi vì chúng ta sống như chúng ta cầu nguyện.
Số 2753 Trong cuộc chiến đấu của việc cầu nguyện, chúng ta phải đương đầu với những quan niệm sai lầm về cầu nguyện, với những não trạng khác, với kinh nghiệm về những thất bại của chúng ta. Đối với những cám dỗ này, vốn gợi lên sự nghi ngờ về lợi ích hoặc thậm chí về sự khả dĩ của việc cầu nguyện, cần phải đáp lại bằng sự khiêm nhường, tin tưởng và kiên trì.
Số 2754 Những khó khăn chính trong việc cầu nguyện là sự chia trí và sự khô khan. Phương thuốc chữa trị hệ tại ở đức tin, sự hối cải và sự tỉnh thức của tâm hồn.
Số 2755 Hai cám dỗ thường xuyên đe dọa việc cầu nguyện: sự thiếu lòng tin và sự nguội lạnh; sự nguội lạnh là một hình thức suy nhược tinh thần, do nới lỏng việc khổ chế và dẫn tới sự nản lòng.
Số 2756 Lòng tin tưởng phó thác của con cái Thiên Chúa bị thử thách khi cảm thấy mình không luôn được nhậm lời. Tin Mừng mời gọi chúng ta tự vấn xem lời cầu nguyện của chúng ta có phù hợp với muốn của Thần Khí hay không.
Số 2757 “Hãy cầu nguyện không ngừng (1 Tx 5,17). Lúc nào chúng ta cũng có thể cầu nguyện. Cầu nguyện là một nhu cầu sống còn. Cầu nguyện và đời sống Kitô hữu không thể tách rời nhau.
Số 2758 Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong Giờ của Người được gọi cách xác đáng là “lời nguyện tư tế” 144 , bao gồm toàn bộ nhiệm cục tạo dựng và cứu độ. Lời cầu nguyện này gợi hứng cho những lời cầu xin quan trọng của kinh Lạy Cha.
ĐOẠN THỨ HAI: LỜI KINH CHÚA DẠY: KINH LẠY CHA Số 2759 “Có một lần Chúa Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gioan đã dạy môn đệ của ông (Lc 11,1). Đáp lại lời xin ấy, Chúa Giêsu trao cho các môn đệ của Người và cho Hội Thánh của Người lời kinh căn bản của Kitô giáo. Thánh Luca đưa ra bản văn ngắn của lời kinh này (có năm lời cầu xin 145 ), còn thánh Matthêu thì đưa ra bản giải thích nhiều hơn (có bảy lời cầu xin 146 ). Truyền thống phụng vụ của Hội Thánh đã giữ bản văn của thánh Matthêu (Mt 6, 9-13): “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ”.
Số 2760 Ngay từ buổi đầu, cách sử dụng của phụng vụ đã kết thúc kinh Lạy Cha bằng một vinh tụng ca. Theo sách Đidakê, vinh tụng ca này là: “Vì uy lực và vinh quang là của Cha đến muôn đời” 147 . Sách Quy chế Tông Đồ còn thêm vào đầu câu: “Vương quyền” 148 ; biểu thức này còn được giữ đến ngày nay trong lời cầu nguyện đại kết. Truyền thống Byzantin sau thuật ngữ “vinh quang lại thêm “của Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Sách Lễ Rôma khai triển lời xin cuối cùng thành viễn ảnh rõ ràng về sự mong đợi niềm hy vọng hồng phúc và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta 149 ; sau đó là lời tung hô của cộng đoàn, lấy lại vinh tụng ca của sách Quy chế Tông Đồ.
Mục 1: “Bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng" Số 2761 “Lời Kinh Chúa dạy quả thật là bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng” 150 . “Sau khi dạy mẫu kinh này, Chúa Giêsu thêm: Cứ xin đi, anh em sẽ được (Ga 16,24). Vậy mỗi người có thể dâng lên Chúa những lời kinh khác nhau tùy nhu cầu, nhưng luôn phải bắt đầu bằng kinh nguyện căn bản là Lời Kinh Chúa dạy như là lời kinh nền tảng” 151 .
I. Ở tâm điểm của Sách Thánh Số 2762 Sau khi cho thấy các Thánh vịnh là chất liệu nuôi dưỡng chính yếu của kinh nguyện Kitô giáo và được quy tụ lại nơi các lời cầu xin trong kinh Lạy Cha như thế nào, thánh Augustinô kết luận: “Bạn hãy rảo qua mọi lời cầu nguyện có trong các Sách Thánh, như tôi thiết nghĩ, bạn sẽ thấy không có điều gì mà Lời Kinh Chúa dạy lại không chứa đựng và bao gồm” 152 .
Số 2763 Tất cả sách Cựu Ước (Lề luật, các Tiên tri và các Thánh vịnh) đều được ứng nghiệm nơi Đức Kitô 153 . Tin Mừng chính là “Tin vui mừng đó. Thánh Matthêu đã tóm lược việc loan báo đầu tiên của Tin vui mừng đó trong Bài giảng trên núi 154 . Mà lời kinh dâng lên Cha chúng ta nằm ở trung tâm của lời loan báo này. Chính trong bối cảnh đó mà mỗi lời cầu xin trong Lời Kinh Chúa dạy được sáng tỏ: “Lời Kinh Chúa dạy là lời cầu nguyện tuyệt hảo.... Nhưng trong Lời kinh đó, không những chúng ta cầu xin những điều chúng ta có thể ước ao cách chính đáng, mà còn theo một trật tự những điều đáng ước ao nữa: như vậy, lời kinh này không những dạy chúng ta cầu xin, mà còn huấn luyện toàn thể tâm tình của chúng ta 155 .
Số 2764 Bài giảng trên núi là giáo huấn để sống, kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện, nhưng trong cả hai, Thần Khí của Chúa đem lại thể thức mới cho những ao ước của chúng ta, cho những biến chuyển nội tâm làm sinh động cuộc đời chúng ta. Chúa Giêsu dùng lời Người dạy chúng ta về cuộc đời mới và dạy chúng ta nài xin cuộc đời mới này bằng cầu nguyện. Sự trung thực của cuộc đời chúng ta trong Người sẽ tuỳ thuộc vào sự trung thực của lời cầu nguyện của chúng ta.
II. “Lời Kinh Chúa dạy" Số 2765 Cách gọi truyền thống “Lời Kinh Chúa dạy” muốn nói rằng kinh nguyện chúng ta dâng lên Cha chúng ta là do Chúa Giêsu chỉ dạy và ban tặng. Lời kinh này, từ Chúa Giêsu đến với chúng ta, quả là độc nhất vô nhị: đó là Lời Kinh “của Chúa”. Một đàng, qua những lời trong kinh này, Con Một Thiên Chúa quả thật ban cho chúng ta những lời mà Chúa Cha đã ban cho Người 156 : Người là Thầy dạy chúng ta cầu nguyện. Đàng khác, là Ngôi Lời nhập thể, nên trong trái tim nhân loại của Người, Người biết rõ nhu cầu của những anh chị em loài người của Người, và Người bày tỏ những nhu cầu đó cho chúng ta: Người là mẫu mực của việc cầu nguyện của chúng ta.
Số 2766 Nhưng Chúa Giêsu không để lại cho chúng ta một công thức được lặp đi lặp lại cách máy móc 157 . Cũng như trong bất cứ lời khẩu nguyện nào, chính nhờ Ngôi Lời Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần dạy cho con cái Thiên Chúa biết cầu nguyện với Cha họ. Chúa Giêsu không những ban cho chúng ta những lời cầu nguyện của người con hiếu thảo, mà đồng thời Người còn ban tặng chúng ta Thần Khí để những lời ấy trở thành “thần khí và là sự sống (Ga 6,63) trong chúng ta. Hơn nữa, chúng ta có lý do và có khả năng dâng lời cầu nguyện con thảo là vì Chúa Cha “đã sai Thần Khí của Con Ngài đến ngự trong lòng chúng ta mà kêu lên: 'Abba, Cha ơi" (Gl 4,6). Bởi vì lời cầu nguyện của chúng ta nói lên những ước muốn của chúng ta trước mặt Chúa Cha, nên Đấng “thấu suốt tâm can , tức là Chúa Cha, “biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,27). Việc cầu nguyện dâng lên Cha chúng ta được đưa vào trong sứ vụ huyền diệu của Chúa Con và của Thần Khí.
III. Lời Kinh của Hội Thánh Số 2767 Ngay từ đầu, Hội Thánh đã đón nhận và sống hồng ân không thể tách rời gồm các lời của Chúa, và Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống cho các lời đó trong lòng các tín hữu. Các cộng đoàn tiên khởi cầu nguyện bằng Lời Kinh Chúa dạy “ba lần trong ngày 158 thay thế cho “mười tám lời chúc tụng” vẫn được sử dụng trong việc đạo đức của Do Thái giáo.
Số 2768 Theo Truyền thống các Tông Đồ, Lời Kinh Chúa dạy được bén rễ sâu chủ yếu trong kinh nguyện phụng vụ. “Chúa dạy chúng ta cầu nguyện chung cho các anh chị em. Vì Người không nói Lạy Cha của con, ngự trên trời, nhưng là Lạy Cha chúng con', để khẩn cầu cho toàn thân thể Hội Thánh 159 . Trong mọi truyền thống phụng vụ, Lời Kinh Chúa dạy là thành phần không thể thiếu của các giờ kinh phụng vụ chính. Nhưng nhất là trong ba bí tích khai tâm Kitô giáo, đặc tính Hội Thánh của lời kinh này nổi bật:
Số 2769 Trong bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, nghi thức trao Kinh Lạy Cha nói lên ý nghĩa việc sinh hạ mới vào sự sống thần linh. Vì việc cầu nguyện của Kitô giáo là ngỏ lời với Thiên Chúa bằng chính lời của Thiên Chúa, nên những người “đã được tái sinh... nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống (1 Pr 1,23) học kêu cầu Cha của mình, bằng Lời duy nhất mà Cha luôn đoái nhận. Và từ nay trở đi, họ có thể làm như thế, bởi vì ấn tín của việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần đã ghi dấu không thể xóa nhoà trong lòng họ, trên tai họ, trên môi họ, trên trọn vẹn thực tại làm con của họ. Chính vì lẽ đó, phần lớn các bài giải thích của các Giáo phụ về kinh Lạy Cha đều nhắm đến các dự tòng và tân tòng. Khi Hội Thánh cầu nguyện bằng Lời Kinh Chúa dạy, thì luôn luôn là đoàn dân “như những trẻ sơ sinh đang cầu nguyện và nhận được lòng thương xót 160 .
Số 2770 Trong Phụng vụ Thánh Thể, Lời Kinh Chúa dạy rõ ràng mang tính cách là lời kinh của toàn thể Hội Thánh, với đầy đủ ý nghĩa và hiệu năng. Được đặt giữa Kinh nguyện Thánh Thể (Anaphora) và phụng vụ hiệp lễ, kinh Lạy Cha một đàng gồm tóm mọi lời cầu xin và chuyển cầu đã được diễn tả sau kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis), và đàng khác, lời kinh này gõ cửa Bàn tiệc Nước Trời mà việc Hiệp lễ là tiền dự.
Số 2771 Trong Thánh Lễ, Kinh Lạy Cha còn biểu lộ đặc tính cánh chung của các lời cầu xin trong kinh này. Đây là lời kinh riêng “của thời cuối cùng”, của thời cứu độ đã bắt đầu bằng việc tuôn đổ Chúa Thánh Thần và sẽ kết thúc bằng cuộc trở lại của Chúa. Các lời cầu xin dâng lên Cha chúng ta, khác với các lời kinh trong Cựu Ước, dựa trên mầu nhiệm cứu độ đã được thực hiện, một lần cho mãi mãi, trong Đức Kitô chịu đóng đinh và đã phục sinh.
Số 2772 Từ niềm tin không lay chuyển ấy, phát xuất niềm hy vọng khơi dậy mỗi một trong bảy lời cầu xin. Những lời cầu xin này diễn tả tiếng rên siết của thời hiện tại, của thời kiên nhẫn và mong đợi này, lúc mà “chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ" (1 Ga 3,2) 161 . Thánh Lễ và kinh Lạy Cha đều hướng về ngày Chúa quang lâm, “cho tới khi Chúa đến" (1 Cr 11,26).
TÓM LƯỢC Số 2773 Đáp lại lời xin của các môn đệ (“Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện”: Lc 11,1), Chúa Giêsu đã trao cho các ông lời kinh căn bản của Kitô giáo là kinh Lạy Cha.
Số 2774 “Lời Kinh Chúa dạy quả thật là bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng” 162 , là “lời kinh tuyệt hảo” 163 . Lời kinh này nằm ở tâm điểm của Sách Thánh.
Số 2775 Lời kinh này được gọi là "Lời Kinh Chúa dạy" vì lời kinh này đến với chúng ta từ Chúa Giêsu, là Thầy và là mẫu mực cho việc cầu nguyện của chúng ta.
Số 2776 Lời Kinh Chúa dạy cũng là lời kinh của Hội Thánh. Lời kinh này là thành phần không thể thiếu của các Giờ Kinh phụng vụ chính và của các bí tích khai tâm Kitô giáo: Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể. Được đưa vào trong Thánh Lễ, lời kinh này biểu lộ tính “cánh chung" của những lời cầu xin, trong khi mong đợi Chúa, “cho tới khi Chúa đến" (1 Cr 11,26).
Mục 2: “Lạy Cha chúng con ở trên trời” I. “Chúng ta dám nguyện rằng” Số 2777 Trong phụng vụ Rôma, cộng đoàn tham dự thánh lễ được mời đọc kinh Lạy Cha với sự bạo dạn của người con hiếu thảo; các phụng vụ Đông Phương cũng dùng những cách diễn tả tương tự và triển khai thêm: “Chúng con dám tin tưởng nguyện rằng”, “xin làm cho chúng con xứng đáng”. Trước bụi gai rực cháy, có tiếng phán bảo ông Môisen: “Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra!” (Xh 3,5). Duy một mình Chúa Giêsu có thể bước qua ngưỡng cửa của sự thánh thiện của Thiên Chúa, vì Người là Đấng “đã tẩy trừ tội lỗi” (Dt 1,3), dẫn chúng ta đến trước tôn nhan Chúa Cha: “Này Con đây, cùng với những con cái mà Cha đã ban cho Con" (Dt 2,13). “Ý thức về tình trạng nô lệ của mình sẽ dìm chúng ta xuống đất, thân phận phàm trần sẽ tiêu tan thành bụi tro, trừ phi quyền bính của chính Chúa Cha, Thần Khí của Con Ngài thúc đẩy chúng ta kêu lên lời này. Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con Ngài kêu lên trong lòng chúng ta: 'Abba, Cha ơi!' (Rm 8,15). Có khi nào một phàm nhân đáng chết dám gọi Thiên Chúa là Cha, nếu quyền năng của thượng giới không tác động vào nội tâm con người? 164
Số 2778 Quyền năng này của Thần Khí, Đấng dẫn đưa chúng ta vào Lời Kinh Chúa dạy, được diễn tả trong các phụng vụ Đông và Tây phương, bằng kiểu nói đẹp đẽ, mang nét đặc trưng Kitô giáo, là "parrhesia", có nghĩa là sự đơn sơ thẳng thắn, lòng tin tưởng của người con thảo, sự an tâm phấn khởi, sự bạo dạn khiêm tốn, sự xác tín rằng chúng ta được yêu thương 165 .
II. “Lạy Cha!” Số 2779 Trước khi đọc lời đầu tiên của Lời Kinh Chúa dạy, cần phải khiêm tốn thanh tẩy tâm hồn chúng ta khỏi một số hình ảnh sai lạc của “thế gian này”. Lòng khiêm tốn giúp chúng ta nhận biết điều này: “Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho (Mt 11,27), nghĩa là “cho những người bé mọn (Mt 11,25). Sự thanh tẩy tâm hồn liên quan đến những hình ảnh về người cha hoặc người mẹ, phát sinh do kinh nghiệm bản thân hoặc văn hóa, làm ảnh hưởng đến tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa. Thiên Chúa, Cha chúng ta, siêu việt trên mọi phạm trù của thế giới thụ tạo. Đem những ý niệm của chúng ta trong vấn đề này để gán cho Thiên Chúa hoặc để chống lại Ngài, là tạo ra các ngẫu tượng để tôn thờ hoặc để hạ bệ. Cầu nguyện cùng Chúa Cha là đi vào mầu nhiệm của Ngài, như Ngài hiện hữu và như Chúa Con đã mạc khải Ngài cho chúng ta: “Danh hiệu Thiên Chúa là Cha, chưa từng được bày tỏ cho một người nào. Cả khi ông Môisen hỏi Thiên Chúa là ai, ông chỉ được nghe một danh khác. Danh hiệu này được mạc khải cho chúng ta trong Chúa Con. Vì trước khi 'Con' đến, chưa có danh hiệu 'Cha' 166 .
Số 2780 Chúng ta có thể kêu cầu Thiên Chúa là “Cha”, bởi vì Con của Ngài nhập thể mạc khải cho chúng ta và vì Thần Khí của Ngài làm cho chúng ta nhận biết Ngài. Điều con người không thể nhận biết và các cơ binh Thiên thần không thể nhìn ra, về tương quan ngôi vị của Chúa Con với Chúa Cha 167 , thì Thần Khí của Chúa Con đã làm cho chúng ta, những người tin Chúa Giêsu là Đức Kitô và là những người được sinh ra bởi Thiên Chúa 168 , được tham dự vào tương quan đó.
Số 2781 Khi cầu nguyện cùng Chúa Cha, chúng ta ở trong sự hiệp thông với Ngài và với Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô 169 . Lúc đó chúng ta nhận biết và công nhận Ngài trong sự thán phục luôn luôn mới mẻ. Lời đầu tiên của Lời Kinh Chúa dạy, là một lời chúc tụng tôn thờ, trước khi là một lời cầu khẩn. Quả thật, đây là vinh quang của Thiên Chúa: chúng ta nhận biết Thiên Chúa thật với tư cách là “Cha . Chúng ta tạ ơn Ngài vì Ngài đã mạc khải Danh Ngài cho chúng ta, vì Ngài đã cho chúng ta tin Ngài và được sống dưới sự hiện diện của Ngài.
Số 2782 Chúng ta có thể thờ lạy Chúa Cha bởi vì Ngài đã cho chúng ta được tái sinh vào sự sống của Ngài, khi nhận chúng ta làm nghĩa tử trong người Con Một của Ngài: nhờ bí tích Rửa Tội, Ngài tháp nhập chúng ta vào thân thể Đức Kitô (Đấng được xức dầu), và nhờ việc Xức Dầu bằng Thần Khí của Ngài, Đấng tuôn tràn từ Đầu đến các chi thể, Ngài làm cho chúng ta nên “những Kitô” (“những người được xức dầu”). “Vì chưng, Thiên Chúa, Đấng đã tiền định cho chúng ta được ơn làm nghĩa tử, đã làm cho chúng ta được đồng hình đồng dạng với thân thể vinh quang của Đức Kitô. Vì vậy, là những người được thông dự vào Đức Kitô, anh em được gọi, một cách không phải là không chính đáng, là 'những Kitô' 170 . “Con người mới, khi đã được tái sinh và được phục hồi cho Thiên Chúa nhờ ân sủng của Ngài, thì trước hết sẽ thưa 'Lạy Cha', bởi vì người đó đã bắt đầu là con của Ngài” 171 .
Số 2783 Như vậy, nhờ Lời Kinh Chúa dạy, chúng ta được mạc khải cho biết về chính mình, đồng thời với việc Chúa Cha được mạc khải cho chúng ta 172 : “Hỡi con người, bạn không dám ngước mặt lên trời, bạn đưa mắt nhìn xuống đất, rồi bỗng nhiên, bạn nhận được ân sủng của Đức Kitô, mọi tội lỗi của bạn được tha thứ. Từ một người đầy tớ xấu, bạn được trở thành người con ngoan.... Vậy, bạn hãy đưa mắt nhìn lên Chúa Cha, Đấng đã sinh ra bạn nhờ Phép Rửa, Đấng đã cứu chuộc bạn nhờ Con của Ngài, và hãy thưa: 'Lạy Cha chúng con...'. Nhưng bạn đừng đòi hỏi điều gì riêng biệt. Thiên Chúa là Cha riêng biệt đối với Đức Kitô mà thôi, và là Cha chung của tất cả chúng ta, bởi vì Ngài đã sinh ra một mình Chúa Con, còn chúng ta thì được Ngài tạo dựng. Vì thế, nhờ ân sủng bạn hãy thưa: 'Lạy Cha chúng con', ngõ hầu bạn xứng đáng là con của Ngài 173 .
Số 2784 Hồng ân nhưng không, là được nhận làm nghĩa tử, đòi buộc chúng ta phải hối cải không ngừng và phải có một đời sống mới. Cầu nguyện với Cha chúng ta phải phát triển nơi chúng ta hai tâm tình căn bản này: [Một là] Ước ao và quyết chí muốn nên giống Ngài. Vì được tạo dựng theo hình ảnh Ngài, nhờ ân sủng, chúng ta được phục hồi việc nên giống Ngài, và chúng ta phải cư xử cách tương xứng: “Khi gọi Thiên Chúa là Cha, chúng ta phải hành động như những người con của Thiên Chúa" 174 . “Anh em không thể gọi Thiên Chúa là Cha nhân lành nếu vẫn còn lòng độc ác và bất nhân; bởi vì anh em không còn giữ được trong mình chứng tích về sự nhân lành của Cha trên trời nữa” 175 . “Hãy luôn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Cha trên trời, và phải tô điểm tâm hồn mình theo vẻ đẹp đó 176 .
Số 2785 [Hai là] Lòng khiêm nhường và tin tưởng, nhờ đó chúng ta hối cải và trở nên “như trẻ nhỏ” (Mt 18,3): vì Chúa Cha mạc khải mình cho “những người bé mọn" (Mt 11,25): “(Khi đọc kinh Lạy Cha,) chúng ta phải chiêm ngắm duy mình Thiên Chúa và bừng cháy lửa mến yêu, nhờ đó, tâm trí được tan chảy và đắm chìm trong tình yêu của Ngài, sẽ thưa chuyện với Ngài một cách hết sức thân mật như với người Cha riêng của mình, với lòng hiếu thảo đặc biệt 177 . "Lạy Cha chúng con': Cách xưng hô này vừa gợi lên lòng yêu mến – vì đối với con cái còn gì yêu quý hơn người cha? – và tâm tình khẩn nguyện, vừa khiến chúng ta biết chắc sẽ nhận được những điều chúng ta sắp cầu xin. Lẽ nào Thiên Chúa từ chối lời cầu xin của con cái, trong khi trước đó Ngài đã ban cho họ được làm con cái của Ngài? 178
III. Lạy Cha “chúng con" Số 2786 Lạy Cha “chúng con" nhắm đến Thiên Chúa. Tĩnh từ “(của) chúng con” không nói lên sự sở hữu, nhưng nói lên tương quan hoàn toàn mới mẻ giữa chúng ta với Thiên Chúa.
Số 2787 Khi thưa “Lạy Cha chúng con”, trước hết chúng ta nhìn nhận rằng mọi lời hứa yêu thương của Ngài, mà các tiên tri đã loan báo, nay đã được thực hiện nhờ Giao ước mới và vĩnh cửu trong Đức Kitô của Ngài: Chúng ta đã trở thành dân “của Ngài” và từ nay Ngài là Thiên Chúa “của chúng ta”. Tương quan mới này là sự thuộc về nhau, do Chúa ban cách nhưng không cho chúng ta. Chúng ta phải lấy tình yêu và lòng trung thành mà đáp lại “ân sủng và sự thật” 179 mà Ngài đã ban cho chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô.
Số 2788 Vì Kinh Lạy Cha là lời kinh của dân Ngài trong “thời sau hết”, cho nên thuật ngữ “(của) chúng con" cũng diễn tả niềm hy vọng vững vàng của chúng ta vào lời hứa tối hậu của Thiên Chúa: trong thành Giêrusalem mới, Ngài sẽ nói với kẻ chiến thắng: “Ta sẽ là Thiên Chúa của người ấy và người ấy sẽ là con của Ta” (Kh 21,7).
Số 2789 Khi cầu nguyện với Cha “của chúng ta , chúng ta đích thân hướng về Cha của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Chúng ta không phân chia thần tính, vì Chúa Cha là “nguồn mạch và cội nguồn” của thần tính đó, nhưng qua đó chúng ta tuyên xưng rằng từ đời đời Chúa Con được sinh ra bởi Ngài, và Chúa Thánh Thần phát xuất từ Ngài. Chúng ta cũng không lẫn lộn các Ngôi Vị, vì chúng ta tuyên xưng sự hiệp thông của chúng ta là với Chúa Cha và Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, trong Chúa Thánh Thần độc nhất của hai Ngôi Vị đó. Ba Ngôi Chí Thánh là đồng bản thể và không thể phân chia. Khi chúng ta cầu nguyện với Chúa Cha, chúng ta thờ lạy và tôn vinh Ngài cùng với Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Số 2790 Theo ngữ pháp, “của chúng con" nói lên một thực tại chung cho nhiều người. Chỉ có một Thiên Chúa, Ngài được nhận biết là Cha bởi những kẻ, nhờ tin vào Con độc nhất của Ngài, đã được Ngài tái sinh nhờ nước và Chúa Thánh Thần 180 . Hội Thánh chính là sự hiệp thông mới này giữa Thiên Chúa với con người: vì được kết hợp với Người Con độc nhất, Đấng đã trở nên “trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29), Hội Thánh được hiệp thông với cùng một Chúa Cha, trong cùng một Chúa Thánh Thần. Khi cầu nguyện với Cha “(của) chúng con , mỗi người đã được rửa tội đều cầu nguyện trong sự hiệp thông đó: “Các tín hữu... tuy đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý” (Cv 4,32).
Số 2791 Do đó, dù còn có sự chia rẽ giữa các Kitô hữu, lời kinh “Lạy Cha chúng con" vẫn là gia sản chung và là lời mời gọi khẩn thiết đối với mọi người đã được rửa tội. Vì hiệp thông nhờ đức tin vào Chúa Kitô và nhờ bí tích Rửa Tội, họ phải dự phần vào lời nguyện của Chúa Giêsu, để cầu cho sự hợp nhất giữa các môn đệ Người 181 .
Số 2792 Sau cùng, nếu thật lòng cầu nguyện “Lạy Cha chúng con , chúng ta thoát được chủ nghĩa cá nhân, bởi vì tình yêu, mà chúng ta đón nhận, giải thoát chúng ta khỏi điều đó. Thuật ngữ “chúng con” ở đầu kinh Lạy Cha, cũng như thuật ngữ “chúng con" trong bốn lời xin cuối cùng, không loại trừ một ai. Để thật lòng đọc kinh Lạy Cha 182 , chúng ta phải vượt qua mọi chia rẽ và đối nghịch.
Số 2793 Những người đã chịu Phép Rửa không thể thưa “Lạy Cha chúng con”, nếu không dâng lên Chúa Cha tất cả mọi người, vì Ngài đã trao ban Con yêu dấu của Ngài cho mọi người. Tình yêu của Thiên Chúa không có biên giới, nên lời cầu nguyện của chúng ta cũng phải như vậy 183 . Khi đọc “Lạy Cha chúng con , lòng chúng ta được mở rộng theo mức độ tình yêu của Chúa Cha được biểu lộ trong Đức Kitô: cầu nguyện với mọi người và cho mọi người chưa nhận biết Cha, để họ được quy tụ về một mối 184 . Sự quan tâm đúng theo ý Chúa đối với mọi người và toàn thể tạo vật đã thúc đẩy tất cả những người cầu nguyện “vĩ đại”: sự quan tâm đó phải đưa lời cầu nguyện của chúng ta đến một tình yêu rộng mở, khi chúng ta dám nguyện rằng: “Lạy Cha chúng con”.
IV. “Ở trên trời” Số 2794 Thuật ngữ Thánh Kinh này không muốn ám chỉ một vị trí nào đó (“không gian”), nhưng muốn nói lên một cách thức hiện hữu; không nói lên sự xa vời của Thiên Chúa, nhưng diễn tả sự uy nghi cao cả của Ngài. Cha chúng ta không “ở chỗ khác”, nhưng Ngài “vượt xa tất cả” những gì mà chúng ta có thể tưởng nghĩ về sự thánh thiện của Ngài. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng chí thánh, nên Ngài rất gần gũi những tâm hồn thống hối, khiêm cung: “Vì vậy, thật chí lý khi lời kinh Lạy Cha chúng con ở trên trời được hiểu về trái tim của những người công chính, bởi vì Thiên Chúa ngự nơi họ như là trong đền thánh của Ngài. Vì vậy ai cầu nguyện thì ước ao cho Đấng mình kêu cầu sẽ đến ngự trong mình 185 . ““Trời có thể được hiểu về những ai mang hình ảnh của trời, nơi đó Thiên Chúa ngự trị và di động” 186 .
Số 2795 Thuật ngữ “ở trên trời” hướng chúng ta đến mầu nhiệm Giao ước mà chúng ta đang sống, khi chúng ta cầu nguyện với Cha chúng ta. Ngài “ở trên trời”, đó là nơi Ngài ngự, là nhà của Cha, nên cũng là “quê hương” của ta. Tội lỗi đã khiến chúng ta bị lưu đày xa miền đất Giao ước 187 , còn hối cải tâm hồn sẽ dẫn đưa chúng ta trở về cùng Cha “ở trên trời” 188 . Quả vậy, trời đất được giao hòa trong Đức Kitô 189 , bởi vì chỉ có Chúa Con đã “từ trời xuống”, và chính Người đã dẫn đưa chúng ta lên trời với Người, nhờ thập giá, sự Phục sinh và Thăng thiên của Người 190 .
Số 2796 Khi đọc kinh “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, Hội Thánh tuyên xưng chúng ta là dân Thiên Chúa, đã được cùng ngự trị với Đức Kitô Giêsu trên cõi trời, tuy còn đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa 191 , và đồng thời, đang “rên siết là vì những ước mong được thấy ngôi nhà thiên quốc của chúng ta phủ lên chiếc lều ở dưới đất này" (2 Cr 5,2) 192 : Các Kitô hữu “ở trong xác phàm, nhưng không sống theo xác phàm. Họ sống nơi dương thế, nhưng có quyền công dân trên trời" 193 .
TÓM LƯỢC Số 2797 Lòng tin tưởng đơn sơ và trung tín, sự phó thác khiêm tốn và hân hoan là những thái độ mà người cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha phải có.
Số 2798 Chúng ta có thể kêu cầu Thiên Chúa là “Cha”, bởi vì Con Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta. Nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta được tháp nhập vào Con Thiên Chúa và được thừa nhận làm con cái Thiên Chúa.
Số 2799 Lời Kinh Chúa dạy cho chúng ta được hiệp thông với Chúa Cha và với Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô. Lời kinh này đồng thời mạc khải cho chúng ta biết về chính mình 194 .
Số 2800 Lời cầu nguyện dâng lên Cha chúng ta phải khơi dậy trong chúng ta ước muốn được nên giống như Ngài, cũng như giúp chúng ta có lòng khiêm tốn và phó thác.
Số 2801 Khi gọi Thiên Chúa là “Cha chúng con”, chúng ta kêu cầu đến Giao Ước Mới trong Chúa Giêsu Kitô, sự hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh và tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu, nhờ Hội Thánh, trải rộng tới các chiều kích của trần gian.
Số 2802 Thuật ngữ “ở trên trời” không muốn ám chỉ một vị trí nào đó, nhưng diễn tả sự uy nghi cao cả của Thiên Chúa và sự hiện diện của Ngài trong trái tim những người công chính. "Trời" là Nhà Cha, nên là quê hương thật sự mà chúng ta hướng tới, và hiện chúng ta đã thuộc về quê hương đó.
Mục 3: Bảy lời cầu xin Số 2803 Sau khi chúng ta đến trước Thiên Chúa là Cha để thờ lạy, yêu mến và chúc tụng Ngài, Thần Khí nghĩa tử khơi lên trong lòng chúng ta bảy lời cầu xin, bảy lời chúc tụng. Ba lời đầu tiên, mang tính đối thần, hướng chúng ta lên vinh quang của Chúa Cha. Bốn lời sau, như những con đường đến với Thiên Chúa, phó dâng sự khốn cùng của chúng ta cho ân sủng của Ngài. “Kìa vực thẳm kêu gào vực thẳm” (Tv 42,8-10).
Số 2804 Ba lời nguyện đầu tiên hướng chúng ta lên Thiên Chúa, cầu xin những điều thuộc về Ngài: Danh Cha, Nước Cha, Ý Cha. Đặc tính của tình yêu là trước tiên nghĩ đến người mình yêu. Trong mỗi lời cầu xin của ba lời nguyện này, chúng ta không nói gì đến “chúng con”, nhưng để cho mình bị lôi cuốn bởi “lòng khao khát nồng nhiệt”, bởi “sự lo lắng” của Người Con yêu dấu đối với vinh quang của Cha Người 195 . “Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện ... : Ba lời khẩn nguyện này đã được nhậm lời trong hy tế của Đức Kitô, Đấng cứu độ; nhưng sau đó, những lời nguyện này hướng đến hy vọng vào thành tựu chung cuộc, bao lâu Thiên Chúa chưa có toàn quyền trên muôn loài 196 .
Số 2805 Các lời cầu xin sau theo tiến trình của một số kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis) trong thánh lễ: dâng lên những mong đợi của chúng ta và xin Cha nhân hậu đoái nhìn. Các lời nguyện này phát xuất từ chúng ta và liên quan đến chúng ta, hiện nay trong cõi đời này: “Xin Cha cho chúng con..., và tha nợ chúng con..., xin chớ để chúng con..., nhưng cứu chúng con...”. Lời cầu xin thứ tư và thứ năm liên quan đến cuộc sống chúng ta, hoặc là cần được nuôi dưỡng, hoặc là cần được chữa lành khỏi tội lỗi. Hai lời cầu xin cuối cùng liên quan đến cuộc chiến đấu nhắm sự sống được vinh thắng, tức là cuộc chiến đấu của chính việc cầu nguyện.
Số 2806 Nhờ ba lời cầu xin đầu tiên, chúng ta được củng cố trong đức tin, tràn đầy đức cậy và sốt sắng nhờ đức mến. Là thụ tạo và còn là tội nhân, chúng ta phải cầu xin cho chúng ta, từ ngữ “chúng ta” này mang chiều kích cả trần gian và lịch sử, chúng ta dâng cái “chúng ta” đó cho tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Vì nhờ Danh Đức Kitô của Ngài và Vương quốc của Thần Khí Ngài, mà Cha chúng ta hoàn thành kế hoạch cứu độ của Ngài, cho chúng ta và cho cả trần gian.
I. “Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng” Số 2807 Thuật ngữ “thánh hoá” ở đây không mang ý nghĩa nguyên nhân (chỉ có Thiên Chúa thánh hoá, làm cho nên thánh), nhưng chủ yếu có ý nghĩa trân trọng: nhận biết như thánh thiện, hay xử sự một cách thánh thiện. Vì thế trong tâm tình thờ lạy, lời kêu cầu này đôi khi được hiểu như một lời ca ngợi và tạ ơn 197 . Nhưng Chúa Giêsu đã dạy chúng ta lời cầu xin này dưới hình thức ước nguyện: cầu xin, ước muốn và mong đợi, liên hệ đến cả Thiên Chúa cả con người. Ngay từ lời cầu xin đầu tiên của kinh Lạy Cha, chúng ta đã được lôi cuốn vào mầu nhiệm nội tại của Thiên Chúa và thảm trạng của công trình cứu độ nhân loại. Nguyện cho “Danh Cha cả sáng đưa chúng ta vào “kế hoạch yêu thương Ngài đã định từ trước (Ep 1,9), “để trước thánh nhan Ngài, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài (Ep 1,4).
Số 2808 Thiên Chúa mạc khải Danh Ngài trong những thời điểm quyết định của nhiệm cục cứu độ, nhưng Ngài mạc khải Danh đó bằng cách thực hiện công trình của Ngài. Mà công trình này chỉ được thành tựu cho chúng ta và trong chúng ta, nếu Danh Ngài được thánh hoá nơi chúng ta và trong chúng ta.
Số 2809 Sự thánh thiện của Thiên Chúa là trung tâm siêu phàm của mầu nhiệm vĩnh cửu của Ngài. Những gì về Ngài được tỏ hiện trong công trình tạo dựng và trong lịch sử, được Sách Thánh gọi là vinh quang, là vẻ rạng ngời của uy linh Ngài 198 . Khi tạo dựng nhân loại “theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài (St 1,26), Thiên Chúa trao triều thiên vinh quang cho con người 199 , nhưng khi họ phạm tội, họ “bị tước mất vinh quang Thiên Chúa” 200 . Từ đó, Thiên Chúa tỏ hiện sự thánh thiện của Ngài bằng cách mạc khải và ban tặng Danh Ngài cho con người, để phục hồi họ “theo hình ảnh của Ngài, Đấng đã tạo dựng nên họ” (Cl 3,10).
Số 2810 Trong lời hứa với tổ phụ Abraham và lời thề kèm theo 201 , chính Thiên Chúa nhập cuộc, nhưng không bộc lộ Danh Ngài. Ngài bắt đầu mạc khải Danh Ngài cho ông Môisen 202 và biểu lộ Danh Ngài trước mắt toàn dân, khi Ngài cứu họ khỏi Ai Cập: “Chúa là Đấng cao cả uy hùng (Xh 15,1). Kể từ Giao ước Sinai, dân này là “của Ngài” và họ phải là một “dân thánh (tiếng Do thái còn có nghĩa là “dân được hiến thánh ) 203 , bởi vì Danh Thiên Chúa cư ngụ nơi họ.
Số 2811 Tuy vậy, bất chấp Lề Luật thánh mà Thiên Chúa chí thánh 204 ban và tái ban cho dân, và mặc dù Chúa, “vì Danh thánh của Ngài”, luôn kiên nhẫn, nhưng dân vẫn quay lưng lại với Đấng Thánh của Israel và “tục hóa Danh thánh Ngài giữa chư dân" 205 . Chính vì vậy, những người công chính trong Cựu Ước, những người nghèo, trở về từ cuộc lưu đày, và các tiên tri luôn cháy lửa nhiệt thành với Danh Ngài.
Số 2812 Sau cùng, Danh của Thiên Chúa chí thánh được mạc khải và được ban tặng cho chúng ta trong Chúa Giêsu, trong xác thể, với tư cách là Đấng Cứu Độ 206 : Danh Thiên Chúa được mạc khải bằng điều “Người Là”, bằng lời Người và bằng hy lễ của Người. Đó là trung tâm của lời nguyện tư tế của Người: Lạy Cha chí thánh, “vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến” (Ga 17,19). Bởi vì Chúa Giêsu đã “thánh hiến” Danh của Người 207 , nên Người “biểu lộ” cho chúng ta Danh của Chúa Cha 208 . Lúc Người hoàn tất cuộc Vượt Qua, Chúa Cha ban cho Người một Danh vượt trên mọi danh: Đức Giêsu là Chúa để tôn vinh Thiên Chúa Cha 209 .
Số 2813 Trong nước Rửa Tội, chúng ta đã “được tẩy rửa, được thánh hoá, được nên công chính nhờ danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta (1 Cr 6,11). Chúa Cha gọi chúng ta trong suốt cuộc đời để “sống thánh thiện” (1 Tx 4,7), và bởi vì nhờ Thiên Chúa mà chúng ta được hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu, “Đấng đã thánh hóa chúng ta (1 Cr 1,30), nên vinh quang của Ngài và cuộc đời chúng ta đều tuỳ thuộc vào điều này, là Danh Ngài được thánh hoá trong chúng ta và bởi chúng ta. Lời cầu xin đầu tiên của chúng ta thúc bách như vậy. “Thiên Chúa là Đấng Thánh Hóa, thì ai có thể thánh hóa Thiên Chúa? Nhưng bởi vì Ngài dạy: 'Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh' (Lv 11,44), nên chúng ta cầu xin, để một khi đã được thánh hóa nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta được kiên trì trong tình trạng chúng ta đã khởi đầu. Hằng ngày chúng ta phải cầu xin điều đó. Quả thật, ơn thánh hoá hằng ngày là cần thiết cho chúng ta, vì ngày nào chúng ta cũng phạm lỗi nên phải thanh tẩy không ngừng nhờ ơn thánh hóa.... Chúng ta phải cầu nguyện để ơn thánh hoá này luôn tồn tại trong chúng ta" 210 .
Số 2814 Có một liên hệ không thể tách rời giữa đời sống và kinh nguyện của chúng ta, để Danh Ngài được thánh hoá giữa chư dân: “Chúng ta cầu xin Thiên Chúa thánh hoá Danh Ngài, nghĩa là Ngài cứu độ và thánh hoá toàn thể tạo vật bằng sự thánh thiện của Ngài. Danh đó là Danh ban ơn cứu độ cho trần gian đã hư mất. Nhưng chúng ta cầu xin để Danh Thiên Chúa được thánh hoá trong chúng ta bằng hành động của chúng ta. Bởi vì nếu chúng ta sống tốt lành, thì Danh Thiên Chúa được chúc tụng; nếu chúng ta sống tệ hại, thì Danh Ngài bị phỉ báng. Hãy nghe lời thánh Tông Đồ: 'Chính vì các người mà danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân' (Rm 2,24). Vì vậy, chúng ta cầu xin để Danh Thiên Chúa là thánh bao nhiêu, thì chúng ta sống xứng đáng với sự thánh thiện của Ngài bấy nhiêu” 211 . Khi chúng ta nguyện rằng: 'Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng', chúng ta cầu xin cho Danh Ngài được thánh hoá trong chúng ta, là những kẻ thuộc về Ngài, cũng như trong mọi kẻ khác, là những người mà ơn thánh Chúa còn đang chờ đợi; do đó chúng ta sẵn sàng tuân mệnh lệnh hãy cầu nguyện cho tất cả mọi người, kể cả kẻ thù nữa. Đó là lý do chúng ta không minh nhiên đọc: xin cho Danh Cha được thánh hoá ở nơi chúng con', bởi vì chúng ta muốn cho Danh Cha được thánh hoá ở nơi tất cả mọi người 212 .
Số 2815 Lời nguyện đầu tiên này bao gồm tất cả các lời cầu xin khác, được đoái nhận nhờ lời cầu nguyện của Chúa Kitô, cũng như sáu lời cầu xin tiếp theo. Lời kinh dâng lên Chúa Cha là lời cầu nguyện của chúng ta, nếu được cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã cầu xin trong lời nguyện tư tế của Người: “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ trong Danh Cha những người mà Cha đã ban cho con" (Ga 17,11).
II. “Nước Cha trị đến” Số 2816 Trong Tân Ước, cùng một từ Basileia có thể dịch là “vương quyền” (danh từ trừu tượng), “nước” (danh từ cụ thể) hay “vương triều” (danh từ chỉ việc cai trị). Nước Thiên Chúa đang ở trước chúng ta. Nước đó đã gần đến trong Ngôi Lời nhập thể, đã được loan báo trong toàn bộ Tin Mừng, và đã đến trong sự chết và sống lại của Đức Kitô. Nước Thiên Chúa đến từ bữa Tiệc Ly và trong bí tích Thánh Thể, Nước đó đang ở giữa chúng ta. Nước đó sẽ đến trong vinh quang, khi Đức Kitô trao nó lại cho Cha Người: “Có thể nói, Nước Thiên Chúa là chính Đức Kitô, Đấng chúng ta hằng ngày khát khao Người đến, và chúng ta mong mỏi việc Người ngự đến mau mau được tỏ hiện cho chúng ta. Đàng khác, cũng như Người là sự phục sinh bởi vì chúng ta được sống lại trong Người, thì cũng vậy, Người có thể được hiểu là Nước Thiên Chúa bởi vì chúng ta sẽ được hiển trị trong Người 213 .
Số 2817 Lời cầu xin này là lời “Marana tha", là tiếng kêu cầu của Thần Khí và Hiền Thê: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến”: “Giả như lời cầu xin này không đòi buộc phải van xin Nước Chúa mau đến đi nữa, thì chúng ta cũng bị thúc giục kêu gào điều đó vì muốn ôm lấy niềm hy vọng của chúng ta. Linh hồn các vị tử đạo nằm dưới bàn thờ lớn tiếng kêu lên Chúa: 'Lạy Chúa, cho đến bao giờ Ngài còn trì hoãn, không xét xử và không bắt những người sống trên mặt đất phải đền nợ máu chúng con?' (Kh 6,10). Chắc chắn các ngài sẽ được xét xử công bằng vào ngày tận thế. Lạy Chúa, nguyện Nước Chúa mau đến” 214 .
Số 2818 Trong Kinh Lạy Cha, vấn đề chủ yếu là việc Nước Thiên Chúa đến cách chung cuộc lúc Đức Kitô trở lại 215 . Nhưng ước muốn này không làm cho Hội Thánh xao lãng sứ mạng của mình ở trần gian, trái lại càng thúc giục Hội Thánh dấn thân hơn nữa. Vì từ ngày lễ Ngũ Tuần, cuộc Ngự đến của Nước Thiên Chúa là công trình của Thần Khí Chúa, Đấng kiện toàn công trình của Đức Kitô nơi trần gian và hoàn tất công việc thánh hóa 216 .
Số 2819 “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Chúa Thánh Thần” (Rm 14,17). Thời cuối cùng, mà chúng ta đang sống, là thời kỳ tuôn đổ Chúa Thánh Thần. Kể từ đó, cuộc chiến đấu quyết định giữa “xác thịt” và Thần Khí đã khởi đầu 217 . “Chỉ tâm hồn thanh sạch mới có thể tin tưởng nói lên: 'Nguyện Nước Cha trị đến'. Quả thật, ai nghe lời thánh Phaolô dạy: 'Vậy tội lỗi đừng có thống trị thân xác phải chết của anh em nữa' (Rm 6,12), và biết giữ hành động, tư tưởng và lời nói của mình trong sạch, người đó mới có thể thưa với Thiên Chúa: 'Nguyện Nước Cha trị đến 218 .
Số 2820 Trong sự phân định theo Thần Khí, các Kitô hữu phải biết phân biệt giữa sự thăng tiến của Nước Thiên Chúa với sự tiến bộ của văn hóa và xã hội họ đang sống. Sự phân biệt này không phải là tách biệt. Ơn gọi của con người vào sự sống muôn đời không bãi bỏ nhưng củng cố nhiệm vụ của họ là phải sử dụng các năng lực và phương tiện do Đấng Tạo Hóa ban, để phục vụ công lý và hòa bình trên trần gian 219 .
Số 2821 Lời cầu xin này được nâng đỡ và đoái nhận trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, vốn hiện diện và hữu hiệu trong bí tích Thánh Thể 220 ; lời cầu nguyện này mang lại hoa trái trong đời sống mới theo các mối phúc 221 .
III. “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” Số 2822 Ý muốn của Cha chúng ta là “mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý (1 Tm 2,3-4). Ngài “kiên nhẫn... vì Ngài không muốn cho ai phải diệt vong (2 Pr 3,9) 222 . Mệnh lệnh của Ngài, gồm tóm mọi mệnh lệnh khác, và diễn tả tất cả ý muốn của Ngài, là chúng ta hãy yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta 223 .
Số 2823 Thiên Chúa “cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Ngài đã định từ trước ... là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô. Cũng trong Đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Ngài, đã tiền định cho chúng ta đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Ngài” (Ep 1,9-11). Vì thế chúng ta tha thiết cầu xin để kế hoạch lân tuất này được thực hiện trọn vẹn dưới đất, như đã được thực hiện trên trời.
Số 2824 Ý Cha được thực hiện một cách tuyệt hảo và một lần cho mãi mãi, trong Đức Kitô, và qua ý chí nhân loại của Người. Khi vào trần gian, Chúa Giêsu đã nói: “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,7) 224 . Chỉ mình Chúa Giêsu mới có thể nói: “Tôi hằng làm những điều đẹp ý Ngài (Ga 8,29). Khi cầu nguyện trong cơn hấp hối, Người hoàn toàn vâng phục ý Cha: “Xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha” (Lc 22,42) 225 . Vì vậy, Chúa Giêsu “đã tự hiến vì tội lỗi chúng ta, theo ý muốn của Thiên Chúa (Gl 1,4). "Theo ý đó, chúng ta được thánh hóa nhờ Chúa Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế (Dt 10,10).
Số 2825 Chúa Giêsu, “dầu là Con Thiên Chúa, đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8), phương chi chúng ta, là những thụ tạo và là tội nhân, đã được nhận làm nghĩa tử trong Người. Chúng ta cầu xin Chúa Cha cho ý muốn của chúng ta được kết hợp với ý muốn của Con Ngài, để chu toàn thánh ý của Cha, là kế hoạch cứu độ hầu cho trần gian được sống. Trong công việc này, chúng ta hoàn toàn bất lực, nhưng nhờ kết hợp với Chúa Giêsu và nhờ quyền năng Thánh Thần của Ngài, chúng ta có thể phó dâng cho Chúa Cha ý muốn của chúng ta và quyết định chọn điều Con Ngài luôn luôn chọn: đó là làm điều đẹp lòng Cha 226 . “Khi gắn bó với Đức Kitô, chúng ta có thể nên một lòng trí với Người, và nhờ đó thực thi ý muốn của Người để, ý Chúa đã nên trọn trên trời thế nào, thì cũng được thể hiện dưới đất như vậy 227 . “Hãy xem Chúa Giêsu Kitô dạy chúng ta sống khiêm tốn như thế nào, khi Người cho chúng ta thấy rằng nhân đức của chúng ta không chỉ tùy thuộc công sức của mình nhưng còn nhờ ân sủng từ trên cao. Ngoài ra, Người ra lệnh cho mỗi người chúng ta khi cầu nguyện, phải quan tâm đến toàn thế giới. Vì Người không dạy: Xin cho ý Cha thể hiện nơi tôi hay nơi anh em, nhưng nói chung là ở mọi nơi 'dưới đất, để sai lầm bị loại bỏ và chân lý được gieo trồng, để thói xấu bị hủy diệt, nhân đức được nảy nở, và như vậy dưới đất' không còn gì khác với trên trời nữa” 228 .
Số 2826 Nhờ cầu nguyện, chúng ta có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa 229 , và kiên nhẫn để thi hành ý Ngài 230 . Chúa Giêsu dạy chúng ta vào Nước Trời, không phải bằng lời lẽ, nhưng bằng việc thi hành “ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời” (Mt 7,21).
Số 2827 “Ai làm theo ý Thiên Chúa, thì Ngài nhậm lời kẻ ấy” (Ga 9,31) 231 . Lời cầu nguyện của Hội Thánh đạt được quyền năng như thế là vì được thực hiện trong Danh Thánh của Chúa Giêsu, nhất là trong Thánh Lễ, và nhờ lời chuyển cầu hiệp thông với Mẹ Thiên Chúa, và với toàn thể các Thánh, là những vị “làm đẹp lòng Chúa, bởi vì các vị đó đã không muốn điều gì khác ngoài thánh ý Ngài: ““Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời, chúng ta có thể diễn tả mà không sợ sai như sau: Ý Cha thể hiện trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con thế nào, thì trong Hội Thánh cũng như vậy; như trong Phu Quân đã chu toàn thánh ý của Cha thế nào, thì trong Hiền Thê đã kết ước với Người cũng như vậy 232 .
IV. "Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” Số 2828 "Xin Cha cho chúng con : đẹp thay lòng tin tưởng của con cái trông chờ Cha ban cho mọi sự: “Ngài cho mặt trời của Ngài mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính (Mt 5,45), Ngài cho tất cả mọi sinh vật “đến bữa cho ăn” (Tv 104,27). Chúa Giêsu dạy chúng ta lời cầu xin này: đây là lời tôn vinh Cha chúng ta, bởi vì lời cầu xin này nhận biết Cha là Đấng quá tốt lành, vượt xa mọi lòng tốt.
Số 2829 "Xin Cha cho chúng con cũng là lời cầu xin trong tinh thần Giao Ước: chúng ta thuộc về Ngài và Ngài thuộc về chúng ta, lo cho chúng ta. Nhưng từ “chúng con nhận biết Ngài là Cha của mọi người nên chúng ta cầu xin Cha cho mọi người, trong tình liên đới với các nhu cầu và đau khổ của họ.
Số 2830 “Lương thực”: Chúa Cha, Đấng ban sự sống cho chúng ta, không lẽ lại không ban những gì cần thiết cho sự sống, tất cả những điều thiện hảo “thích hợp”, vật chất cũng như tinh thần. Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lòng tín thác con thảo, cùng cộng tác với sự quan phòng của Cha chúng ta 233 . Ngài không muốn chúng ta làm biếng, nhưng muốn giải phóng chúng ta khỏi mọi lo âu và bận tâm. Đó là sự phó thác hiếu thảo của con cái Thiên Chúa: “Đối với những ai tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, Ngài hứa ban cho họ mọi điều khác. Bởi vì mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa, nên ai có Thiên Chúa thì sẽ không thiếu thốn sự gì, nếu họ không thiếu vắng Thiên Chúa” 234 .
Số 2831 Nhưng sự tồn tại của những người đang đói cơm bánh cho thấy một chiều sâu khác của lời cầu xin này. Thảm kịch đói khát trên thế giới mời gọi các Kitô hữu đang cầu nguyện trong chân lý, phải có trách nhiệm hữu hiệu đối với các anh em, trong cách hành động cá nhân của họ cũng như trong sự liên đới của họ với gia đình nhân loại. Lời cầu xin này trong kinh Lạy Cha không được tách biệt với các dụ ngôn Anh Lazarô nghèo khó 235 và Cuộc Phán Xét Chung 236 .
Số 2832 Như men trong bột, sự mới mẻ của Nước Chúa phải làm “dậy men" trái đất bằng Thần Khí của Đức Kitô 237 . Điều này phải được tỏ hiện bằng việc thiết lập công bằng trong các tương quan cá nhân và xã hội, kinh tế và quốc tế, mà đừng bao giờ quên rằng không thể có cơ cấu xã hội công bằng nếu không có những con người muốn sống công bằng.
Số 2833 Đối tượng cầu xin là lương thực của “chúng con”: “một” điều cho “tất cả”. Tinh thần khó nghèo theo các mối phúc là nhân đức chia sẻ: nó thúc đẩy thông chia và phân phát những của cải vật chất cũng như tinh thần, không vì cưỡng bách nhưng do tình yêu, ngõ hầu sự dư thừa của người này bù đắp sự túng thiếu của những người khác 238 .
Số 2834 “Cầu nguyện và làm việc” 239 . “Anh em hãy cầu nguyện như thể tất cả tuỳ thuộc vào Thiên Chúa, và hãy làm việc như thể tất cả tuỳ thuộc vào anh em” 240 . Cả khi chúng ta đã hoàn tất công việc của mình, lương thực vẫn là một hồng ân của Cha chúng ta; đẹp thay việc cầu xin Ngài và tạ ơn Ngài về lương thực đó. Đó là ý nghĩa của kinh chúc lành bữa ăn trong gia đình Kitô giáo.
Số 2835 Lời cầu xin này và trách nhiệm kèm theo, cũng có giá trị đối với một nạn đói khác khiến cho con người phải diệt vong: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4,4) 241 , nghĩa là nhờ Lời và Thần Khí của Thiên Chúa. Các Kitô hữu phải vận dụng mọi nỗ lực của mình để “những người nghèo khó được loan báo Tin Mừng”. Trên trái đất còn những người đói khát, “không phải đói bánh ăn, cũng không phải khát nước uống, mà là đói khát được nghe Lời Chúa” (Am 8,11). Vì thế, ý nghĩa đặc thù Kitô giáo của lời cầu xin thứ tư này liên quan đến Bánh trường sinh: đó là Lời Chúa được đón nhận trong đức tin, là Mình Thánh Chúa Kitô được lãnh nhận trong bí tích Thánh Thể 242 .
Số 2836 “Hôm nay cũng là kiểu nói biểu lộ sự phó thác. Chúa dạy chúng ta điều này 243 ; chứ chúng ta không thể sáng chế ra. Đặc biệt khi nói đến Lời Chúa và Mình Thánh của Con Ngài, từ “hôm nay” không chỉ nói đến hiện tại của thời gian chóng qua, mà còn là ngày “Hôm nay của Thiên Chúa: “Nếu mỗi ngày bạn lãnh nhận lương thực, thì mỗi ngày đều là ngày hôm nay cho bạn. Nếu Đức Kitô hôm nay là của bạn, thì mỗi ngày Người sống lại cho bạn. Làm sao lại như thế được? 'Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con' (Tv 2,7). Vì vậy, Ngày Hôm Nay là khi Đức Kitô sống lại 244 .
Số 2837 “Hằng ngày”. Tân Ước không sử dụng từ “hằng ngày” (épiousios) ở chỗ nào khác. Theo nghĩa thời gian, từ này là sự lặp lại từ “hôm nay theo kiểu sư phạm 245 , để dạy chúng ta phó thác cách triệt để. Theo nghĩa phẩm chất, từ này có nghĩa là điều cần thiết cho sự sống và, hiểu rộng hơn, mọi điều thiện hảo đủ để tồn tại 246 . Theo nghĩa văn tự (épi-ousios: "super-substantiale , vượt trên điều cốt thiết), từ này trực tiếp nói đến Bánh trường sinh, là Mình Thánh Chúa Kitô, “phương dược trường sinh 247 , mà nếu không có lương thực này, chúng ta sẽ không có sự sống nơi mình 248 . Sau cùng, kết hợp với điều đã nói trên, ý nghĩa thiên quốc là rõ ràng: “ngày” là ngày của Chúa, ngày của Bàn tiệc Nước Trời, mà bí tích Thánh Thể là một sự tham dự trước, như nếm trước Nước Trời đang đến. Chính vì vậy, phụng vụ Thánh Thể phải được cử hành “hằng ngày”. “Vậy Thánh Thể là lương thực hằng ngày của chúng ta..... Đặc tính của lương thực thần thiêng này là sự hợp nhất, để một khi được kết hợp trong Mình Thánh Người, trở nên các chi thể của Người, chúng ta trở thành điều chúng ta lãnh nhận.... Và lương thực hằng ngày là khi anh em nghe các bài đọc mỗi ngày ở nhà thờ; lương thực hằng ngày là khi anh em nghe và hát các thánh thi. Bởi vì những điều đó là cần thiết cho cuộc lữ hành của chúng ta 249 . “Cha trên trời thúc dục chúng ta là, với tư cách là con cái bởi trời, chúng ta hãy cầu xin Bánh bởi trời 250 . Đức Kitô chính Người là tấm bánh được gieo trồng trong lòng Đức Trinh Nữ, dậy men trong xác phàm, làm thành bánh trong cuộc khổ nạn, nấu nướng trong lò huyệt mộ, lưu giữ trong các nhà thờ, được dâng lên trên các bàn thờ, hằng ngày cung cấp lương thực bởi trời cho các tín hữu 251 .
V. “Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” Số 2838 Lời cầu xin này thật lạ lùng. Nếu chỉ có phần đầu - “xin tha nợ chúng con” -, lời xin này có thể đã tiềm ẩn trong ba lời nguyện đầu của Lời Kinh Chúa dạy, bởi vì hy lễ của Đức Kitô là “để tha thứ tội lỗi”. Tuy nhiên, theo phần hai của câu, lời cầu xin của chúng ta sẽ không được nhậm lời nếu trước đó chúng ta không đáp ứng một đòi buộc của nó. Lời cầu xin của chúng ta hướng đến tương lai; lời đáp ứng của chúng ta phải đi trước; nối kết hai phần của lời cầu xin là từ “như”.
“và tha nợ chúng con..." Số 2839 Với lòng phó thác bạo dạn, chúng ta đã bắt đầu cầu nguyện với Cha chúng ta. Khi nguyện xin Ngài cho Danh Ngài cả sáng, chúng ta đã xin Ngài luôn thánh hoá chúng ta hơn nữa. Nhưng, dù đã mặc chiếc áo Rửa Tội, chúng ta vẫn không ngừng phạm tội, và quay lưng lại với Thiên Chúa. Giờ đây, trong lời cầu xin mới này, chúng ta trở lại với Ngài, như đứa con hoang đàng 252 , và thú nhận mình là tội nhân trước mặt Ngài, như người thu thuế 253 . Lời cầu xin của chúng ta bắt đầu bằng “việc xưng thú”, qua đó chúng ta vừa thú nhận sự khốn cùng của chúng ta, và đồng thời, vừa tuyên xưng lòng thương xót của Ngài. Niềm hy vọng của chúng ta thật vững chắc, bởi vì, trong Con của Ngài, “chúng ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi” (Cl 1,14) 254 . Chúng ta gặp được dấu chỉ hữu hiệu và chắc chắn về ơn tha thứ của Ngài trong các bí tích của Hội Thánh Ngài 255 .
Số 2840 Tuy nhiên, có điều thật đáng sợ, là nguồn ơn thương xót này của Thiên Chúa không thể thấm nhập vào trái tim chúng ta, một khi chúng ta không tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng ta. Tình yêu, cũng như Thân Thể Đức Kitô, không thể phân chia được: chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa mà chúng ta không thấy, nếu chúng ta không yêu mến anh em, chị em mà chúng ta đang thấy 256 . Khi từ chối tha thứ cho anh chị em mình, lòng chúng ta đóng lại và sự chai đá của cõi lòng khiến tình yêu tha thứ của Cha không thể thấm nhập vào được; trong việc xưng thú tội lỗi của mình, lòng chúng ta mới mở ra cho ân sủng của Ngài.
Số 2841 Lời cầu xin này hết sức quan trọng, đến nỗi đây là lời cầu xin duy nhất mà Chúa phải nhắc lại và triển khai thêm trong Bài giảng trên núi 257 . Con người bất lực trước đòi hỏi quan trọng này của mầu nhiệm giao ước. “Nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được (Mt 19,26).
“... như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con" Số 2842 Từ “như ở đây không phải là trường hợp duy nhất trong giáo huấn của Chúa Giêsu: "Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48); "Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ (Lc 6,36); “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13,34). Chúng ta không thể tuân giữ điều răn của Chúa, nếu chỉ bắt chước mẫu gương của Chúa theo dáng vẻ bên ngoài. Vấn đề ở đây là phải tham dự một cách sống động và “tận đáy lòng vào sự thánh thiện, vào lòng thương xót, vào tình yêu của Thiên Chúa chúng ta. Chỉ có Thần Khí, “nhờ Ngài mà chúng ta sống (Gl 5,25), mới có thể làm cho chúng ta có được những tâm tình như Đức Kitô Giêsu đã có 258 . Lúc đó hai việc tha thứ có thể trở nên một, nghĩa là, “biết tha thứ cho nhau như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4,32).
Số 2843 Như thế, những lời Chúa dạy về tha thứ, nghĩa là về thứ tình yêu “yêu đến tận cùng của tình yêu” 259 là một thực tại sống động. Dụ ngôn về người đầy tớ không biết thương xót, kết thúc giáo huấn của Chúa về cộng đoàn giáo hội 260 , được kết thúc bằng lời này: “Ây vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình”. Thật vậy, ở đó, ở “tận đáy lòng”, mà mọi sự bị cầm buộc hay được tháo cởi. Việc không cảm thấy hay quên đi sự xúc phạm không tuỳ thuộc khả năng chúng ta; nhưng một khi trái tim biết tự hiến cho Chúa Thánh Thần sẽ biết biến đổi thương đau thành lòng thương xót, và thanh luyện ký ức bằng cách biến đổi sự xúc phạm thành lời chuyển cầu.
Số 2844 Kinh nguyện Kitô giáo đi đến chỗ tha thứ cho kẻ thù 261 . Lời cầu nguyện biến đổi người môn đệ bằng cách làm cho họ nên đồng hình đồng dạng với Thầy của mình. Tha thứ là một tột đỉnh của kinh nguyện Kitô giáo; chỉ trái tim nào hoà điệu với lòng trắc ẩn của Chúa mới có thể đón nhận hồng ân cầu nguyện. Tha thứ còn minh chứng rằng, trong thế giới này, tình yêu mạnh hơn tội lỗi. Các vị tử đạo, trong quá khứ cũng như hiện tại, đều làm chứng cho Chúa Giêsu về điều này. Tha thứ là điều kiện căn bản cho sự hòa giải giữa con cái Thiên Chúa với Cha của họ 262 và giữa con người với nhau 263 .
Số 2845 Việc tha thứ tự bản chất mang tính thần linh này không có giới hạn cũng như mức độ 264 . Nếu đề cập đến “những xúc phạm” (là “tội theo Lc 11,4 hoặc “nợ” theo Mt 6,12), thì thật sự mọi người chúng ta luôn luôn là những kẻ mắc nợ: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8). Sự hiệp thông của Ba Ngôi Chí Thánh là nguồn mạch và quy luật chân lý của bất cứ tương quan nào 265 . Chúng ta phải sống sự hiệp thông đó trong cầu nguyện, đặc biệt là trong bí tích Thánh Thể 266 . “Thiên Chúa không nhận tế phẩm của những kẻ gây bất hoà, và Ngài truyền họ hãy rời bỏ bàn thờ, và đi làm hoà với anh em trước đã, ngõ hầu có thể giao hoà với Thiên Chúa bằng những lời nài xin an bình. Hy lễ đẹp lòng Chúa hơn cả là sự bình an của chúng ta, sự hoà thuận, tình đoàn kết của đoàn dân trong sự hợp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” 267 .
VI. "Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” Số 2846 Lời cầu xin này xuất phát từ điều trước, vì tội lỗi của chúng ta là kết quả của sự ưng theo cám dỗ. Chúng ta xin Cha chúng ta đừng “dẫn” chúng ta vào cơn cám dỗ. Khó mà dịch kiểu nói Hy lạp bằng một từ: Nó có nghĩa là “đừng cho phép bước vào” 268 , “đừng để chúng con sa chước cám dỗ”. “Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai (Gc 1,13), trái lại, Ngài muốn giải thoát chúng ta khỏi cơn cám dỗ. Chúng ta cầu xin Ngài đừng để ta đi vào con đường dẫn đến tội lỗi. Chúng ta đang ở trong cuộc chiến đấu “giữa xác thịt và Thần Khí”. Lời cầu xin này khẩn cầu Thần Khí cho chúng ta biết phân định và có sức mạnh.
Số 2847 Chúa Thánh Thần giúp chúng ta biết phân định đâu là thử thách, vốn cần thiết để con người nội tâm tăng trưởng 269 và nhằm “thử thách nhân đức” 270 , và đâu là cám dỗ dẫn đến tội lỗi và sự chết 271 . Chúng ta còn phải biết phân định giữa “bị cám dỗ” và “thuận theo” cơn cám dỗ. Cuối cùng, phân định vạch trần sự dối trá của chước cám dỗ: bề ngoài, đối tượng có vẻ “ngon, trông đẹp mắt và đáng quý" (St 3,6), nhưng thật sự, kết quả của nó là sự chết. “Thiên Chúa không muốn áp đặt điều tốt cho ai, nhưng muốn họ tự nguyện.... Hơn nữa, cám dỗ cũng có cái lợi. Ngoại trừ Thiên Chúa, không ai biết được những gì tâm hồn chúng ta đã lãnh nhận, kể cả chính chúng ta, những điều đó được bộc lộ ra nhờ các cơn cám dỗ, kẻo chúng ta vẫn không biết mình cách đúng nghĩa, nhưng khi đã biết mình, chúng ta sẽ nhận ra tình trạng tệ hại của mình, và chúng ta phải tạ ơn Chúa vì những ơn lành, được bộc lộ ra cho chúng ta nhờ các cơn cám dỗ 272 .
Số 2848 Để khỏi sa chước cám dỗ, cần phải có một sự cương quyết của trái tim. “Kho tàng của anh ở đâu thì lòng anh ở đó... Không ai có thể làm tôi hai chủ” (Mt 6,21.24). “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước (G1 5,25). Trong việc “thuận theo” Chúa Thánh Thần như vậy, Chúa Cha sẽ ban cho chúng ta sức mạnh. “Không một cám dỗ nào đã xảy ra cho anh em mà lại vượt quá sức loài người. Thiên Chúa là Đấng trung tín: Ngài sẽ không để anh em bị cám dỗ quá sức; nhưng khi để anh em bị cám dỗ, Ngài sẽ cho kết thúc tốt đẹp, để anh em có sức chịu đựng” (1 Cr 10,13).
Số 2849 Cần phải cầu nguyện thì mới có thể chiến đấu và chiến thắng được. Chính nhờ việc cầu nguyện mà Chúa Giêsu chiến thắng tên Cám dỗ ngay từ buổi đầu 273 , và trong cuộc chiến cuối cùng khi hấp hối 274 . Trong lời cầu xin này dâng lên Chúa Cha, Đức Kitô kết hợp chúng ta vào cuộc chiến đấu và cơn hấp hối của Người. Tâm hồn phải tỉnh thức, hiệp thông với sự tỉnh thức của Người, là điều không ngừng được nhắc đi nhắc lại 275 . Sự tỉnh thức là “kẻ canh giữ trái tim” và Chúa Giêsu xin Cha Người gìn giữ chúng ta trong Danh Cha 276 . Chúa Thánh Thần không ngừng hành động, để giúp chúng ta tỉnh thức 277 . Lời cầu xin này mang đầy ý nghĩa bi thảm khi nghĩ đến cơn cám dỗ cuối cùng của cuộc giao tranh trên đời này; lời cầu xin này xin ơn bền đỗ đến cùng. “Đây, Ta đến như kẻ trộm. Phúc thay kẻ đang canh thức” (Kh 16,15).
VII. “Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ” Số 2850 Lời cầu xin cuối cùng dâng lên Chúa Cha cũng được bao hàm trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17,15). Lời cầu xin này liên hệ đến chúng ta, cách riêng đến từng người, nhưng bao giờ cũng là “chúng con đang cầu nguyện, trong sự hiệp thông với toàn Hội Thánh, để cầu cho toàn thể gia đình nhân loại được giải thoát. Lời Kinh Chúa dạy không ngừng mở ra cho chúng ta các chiều kích của nhiệm cục cứu độ. Việc liên kết của chúng ta với nhau trong thảm trạng tội lỗi và sự chết được biến đổi thành sự liên đới trong Thân Thể Đức Kitô, trong mầu nhiệm “các Thánh thông công 278 .
Số 2851 Trong lời cầu xin này, Sự Dữ không phải là một điều trừu tượng nào đó, nhưng là một cá vị, là Satan, là Ác thần, là thiên thần đã chống lại Thiên Chúa. Ma quỷ (tiếng Hy lạp là Dia-bolos) là “kẻ phá ngang kế hoạch của Thiên Chúa và “công trình cứu độ” của Ngài được thực hiện trong Đức Kitô.
Số 2852 Ma quỷ “ngay từ đầu đã là tên sát nhân... là kẻ nói dối và là cha sự gian dối” (Ga 8,44), “là Satan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ (Kh 12,9). Vì nó mà tội lỗi và sự chết đã xâm nhập trần gian và nhờ nó vĩnh viễn bị đánh bại, mà toàn thể thụ tạo đã “được giải thoát khỏi cảnh hư nát vì tội lỗi và sự chết” 279 . “Chúng ta biết rằng phàm ai đã được Thiên Chúa sinh ra, người đó không phạm tội; nhưng có Đấng Thiên Chúa đã sinh ra giữ gìn người ấy, và Ác thần không đụng đến người ấy được. Chúng ta biết rằng chúng ta thuộc về Thiên Chúa, còn tất cả thế gian đều nằm dưới ách thống trị của Ác thần” (1 Ga 5,18-19): “Chúa quyền năng, Đấng tẩy sạch tội lỗi và tha thứ các lỗi lầm của bạn, Ngài che chở và gìn giữ bạn chống lại các mưu mô của kẻ thù là ma quỷ, để kẻ thù, vốn có thói quen gây nên lầm lỗi, không làm bạn ngạc nhiên. Nhưng ai phó mình cho Thiên Chúa thì không sợ ma quỷ, bởi vì 'có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta? (Rm 8,31)" 280 .
Số 2853 Cuộc chiến thắng trên “thủ lãnh thế gian này 281 đã hoàn tất, một lần cho mãi mãi, vào Giờ Chúa Giêsu tự nguyện nộp mình chịu chết để ban cho chúng ta sự sống của Người. Đó là lúc phán xét thế gian này và thủ lãnh thế gian này “bị tống ra ngoài 282 . Hắn “đuổi bắt người Phụ Nữ” (Kh 12,13) 283 , nhưng không bắt được Bà; Bà là Evà mới, “đầy ân sủng” của Chúa Thánh Thần, được gìn giữ khỏi tội lỗi và sự hư nát của cái chết (Sự Vô nhiễm nguyên tội và Lên trời của Mẹ rất thánh của Thiên Chúa, Đức Maria trọn đời đồng trinh). “Con Mãng Xà nổi giận với người Phụ Nữ và đi giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà” (Kh 12,17). Vì thế, Thần Khí và Hội Thánh cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,17.20), bởi vì khi Người ngự đến, Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi Ác thần.
Số 2854 Khi xin được giải thoát khỏi Ác thần, chúng ta cũng xin được cứu khỏi mọi sự dữ trong hiện tại, quá khứ, và tương lai, do ma quỷ là thủ phạm hay kẻ chủ mưu. Trong lời cầu xin cuối cùng này, Hội Thánh mang đến trước Chúa Cha mọi nỗi khốn cùng của trần gian. Cùng với ơn được giải thoát khỏi mọi sự dữ đang đè nén nhân loại, Hội Thánh nài xin hồng ân quý giá là sự bình an và ơn bền đỗ mong đợi ngày trở lại của Đức Kitô. Khi cầu nguyện như thế, Hội Thánh, trong sự khiêm tốn của đức tin, tiền dự sự quy tụ mọi người và mọi sự trong Đấng nắm “chìa khóa của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1,18), “Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng (Kh 1,8) 284 . “Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Nhờ Chúa rộng lòng thương cứu giúp, chúng con sẽ luôn luôn thoát khỏi tội lỗi, và được an toàn khỏi mọi biến loạn, đang khi chúng con mong đợi niềm hy vọng hồng phúc, và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng con 285 .
Vinh tụng ca kết thúc Số 2855 Vinh tụng ca "Vì vương quyền, uy lực và vinh quang là của Chúa đến muôn đời” để kết thúc, lấy lại ba lời cầu xin đầu tiên dâng lên Cha chúng ta: vinh quang của Danh Ngài, vương quyền của Nước Ngài, và uy lực của ý định cứu độ của Ngài. Nhưng việc lặp lại này mang hình thức thờ lạy và tạ ơn, như trong phụng vụ trên trời 286 . Thủ lãnh thế gian này đã tự gán cho mình một cách dối trá ba tước hiệu đó về vương quyền, uy lực và vinh quang 287 . Đức Kitô, là Chúa, đã hoàn trả các tước hiệu đó lại cho Cha Người cũng là Cha chúng ta, cho đến khi Người giao trả Nước Người cho Cha, lúc mầu nhiệm cứu độ sẽ được hoàn tất vĩnh viễn, và “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” 288 .
Số 2856 “Vào cuối kinh, bạn thưa 'Amen', có nghĩa là 'Mong được như vậy 289 , với từ Amen đó, bạn đóng ấn mọi điều chứa đựng trong lời kinh này mà Thiên Chúa đã truyền dạy 290 .
TÓM LƯỢC Số 2857 Trong kinh Lạy Cha, ba lời cầu xin đầu hướng về Vinh Quang của Chúa Cha: Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện. Bốn lời cầu xin sau trình lên Ngài những ước vọng của chúng ta: các lời cầu xin này xoay quanh sự sống của chúng ta: Xin Ngài ban cho chúng ta lương thực để nuôi sống, chữa lành các tội lỗi và đứng cận kề chúng ta trong cuộc chiến đấu cho sự chiến thắng của Điều Lành trên Sự Dũ.
Số 2858 Khi cầu xin “Danh Cha cả sáng , chúng ta bước vào kế hoạch của Thiên Chúa. Danh Ngài được mạc khải cho ông Môisen, rồi trong Chúa Giêsu được thánh hoá qua chúng ta và trong chúng ta, cũng như nơi mọi dân tộc và nơi từng con người.
Số 2859 Với lời cầu xin thứ hai, Hội Thánh chủ yếu nhắm tới việc lại đến của Đức Kitô và cuộc Ngự đến của Nước Thiên Chúa. Hội Thánh cũng cầu xin cho Nước Thiên Chúa lớn lên trong ngày “hôm nay” của đời sống chúng ta.
Số 2860 Trong lời nguyện thứ ba, chúng ta van xin Cha chúng ta, xin Ngài cho ý muốn của chúng ta được kết hợp với ý muốn của Con Ngài, để kế hoạch cứu độ được hoàn thành trong cuộc sống trần gian.
Số 2861 Trong lời xin thứ tư, khi đọc “Xin Cha cho chúng con , chúng ta, trong sự hiệp thông với anh em, nói lên lòng tín thác con thảo đối với Cha chúng ta trên trời. Từ “lương thực chỉ thực phẩm vật chất, cần thiết để nuôi sống thân xác; nhưng cũng có nghĩa là Bánh sự sống, đó là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa Kitô. Bánh này được lãnh nhận trong “ngày Hôm nay của Thiên Chúa như của nuôi dưỡng hết sứ cần thiết và cốt yếu của Bàn Tiệc Nước Trời mà bí tích Thánh Thể là một sự tham dự trước.
Số 2862 Lời xin thứ năm khẩn cầu lòng Chúa thương xót đến những sự xúc phạm của chúng ta. Lòng thương xót của Thiên Chúa chỉ thẩm thấu vào trái tim chúng ta nếu chúng ta biết tha thứ cho kẻ thù, theo gương mẫu và với sự trợ giúp của Đức Kitô.
Số 2863 Khi đọc “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, chúng ta cầu xin Thiên Chúa đừng để chúng ta đi theo con đường dẫn đến tội lỗi. Lời cầu xin này van xin Thần Khí ban ơn phân định và sức mạnh; cũng cầu xin ơn tỉnh thức và bền đỗ đến cùng.
Số 2864 Trong lời cầu xin cuối cùng “Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ”, Kitô hữu cùng với Hội Thánh cầu nguyện lên Thiên Chúa, xin Ngài biểu lộ chiến thắng Đức Kitô đã đạt được, trên “thủ lãnh thế gian”, trên Satan, là thiên thần, một cách cá vị, đã chống đối Thiên Chúa và kế hoạch cứu độ của Ngài.
Số 2865 Với từ Amen cuối cùng, chúng ta nói lên lời “Fiat của chúng ta đối với bảy lời cầu xin: “Mong được như vậy”.